Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

Kinh nghiệm ấy vừa có tính cách hướng thượng mà cũng vừa có tính cách hướng nội, nhưng cũng có tính cách đi sâu kết hợp một cách nào đó, không khỏi mang dáng dấp một ít nét như là phiếm thần, gần như là hòa tan, hòa đồng biến thành một với tất cả, chẳng những với các vật thụ tạo mà ngay cả với chính Đấng Tạo hóa hay là nguồn gốc của mọi sự. Có thể nói cái kinh nghiệm thần hiệp bất luận tôn giáo nào, học thuyết nào cũng đều như là cái kinh nghiệm của một giọt nước ý thức được chính mình với cái nguồn nước và các giọt nước khác chỉ là một. Cái ý tưởng "Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai", cái mình ở đây không phải chỉ là cái mình nam nữ, nhưng là bất cứ hữu thể nào và nhất là Hữu Thể nguồn gốc của mọi hữu thể, dù nguồn gốc đó có ngã vị tính hay không. Do "mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai", cho nên nhiều khi ngôn từ của các nhà thần hiệp thuộc phái vô ngã cũng có cái giọng mang âm hưởng của hữu ngã; trái lại, trong những tôn giáo hay những học thuyết chủ trương hữu ngã và đa ngã cũng có cái giọng mang âm hưởng của vô ngã.

Đã nói đến kết hiệp thì có hai mặt, một mặt là ta với mình là một, cho nên có cái giọng như là vô ngã, nhưng mình với ta lại là hai, cho nên mới có cái giọng như là hữu ngã và đa ngã. Một nhà thần hiệp Kitô giáo, như Maître Eckhart, thuộc về phái hữu ngã và đa ngã, nhưng trong những bài ngài viết, những bài ngài mô tả về thần hiệp, có những câu suýt nữa là gợi lên hình ảnh về một sự thần hiệp phiếm thần, vô ngã; trái lại một nhà thần hiệp như Kankara, thuộc về phái có thể nói là vô ngã, nhưng vì là sự phối hiệp bao hàm có hai, cho nên cũng có một vài đoạn mô tả mang những hình ảnh của phái hữu ngã và đa ngã; và gần gũi nhất, trong những bài thơ của thi hào Tagore [RabindranathTagore FRAS (tiếng Bengal: রবীন্দ্রনাথ ঠাকুর, /rəˈbɪndrənɑːt tæˈɡɔːr/, tên phiên âm là Ra-bin-đra-nát Ta-go, tên khai sinh Rabindranath Thakur, 7 tháng 5 năm 1861 – 7 tháng 8 năm 1941, biệt danh: Gurudev, Kabiguru, và Biswakabi) là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Môn, nhạc sĩ và nhà dân tộc chủ nghĩa người Ấn Độ được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel. Ông còn là tác giả của bài Quốc ca Ấn Độ (Jana Gana Mana) và Bangladesh (Amar Sonar Bangla). Quốc ca của Sri Lanka lấy cảm hứng từ các tác phẩm của ông. (Wikipedia)], có những bài thơ có thể nói là phảng phất mùi vị phiếm thần vô ngã, nhưng cũng có những bài thơ thì lại phảng phất mùi vị trao đổi của hữu ngã và đa ngã, chẳng khác gì những kinh nghiệm của những nhà thần hiệp Kitô giáo, Do Tháo giáo hay là Hồi giáo là những thần hiệp hữu ngã và đa ngã.

Vì vậy mà có cả một xu hướng đồng nhất hóa đời sống thần hiệp, không phân biệt hữu ngã, đa ngã, vô ngã hoặc phiếm thần, nhưng tôi nghĩ rằng, đó chỉ là đứng về phương diện tâm lý con người bình thường mà thôi, chứ thực ra Kitô giáo vẫn có những nét khác biệt.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

0 nhận xét: