Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 45: Các nhà giảng thuyết



ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 45
CÁC NHÀ GIẢNG THUYẾT

Bàn về những điều tốt loại thứ hai, những điều tốt cụ thể khiến lòng muốn có thể vui thỏa một cách hão huyền.

1 - Loại thứ hai trong những điều tốt thú vị cụ thể có thể khiến lòng muốn vui thỏa hão huyền là những gì chúng tôi gọi tên là “thôi thúc” bởi chúng thôi thúc và thuyết phục ta phụng sự Thiên Chúa. Các nhà giảng thuyết thuộc vào phạm trù này. Ta có thể bàn đến theo hai phía: những gì liên can tới chính những nhà giảng thuyết và những gì liên can tới các thính giả của họ. Cả hai đều cần được cảnh báo phải học cách qui hướng sự vui thỏa của lòng muốn mình lên với Thiên Chúa.

2 - Về phía nhà giảng thuyết. Để sinh ích cho đại chúng và để mình khỏi bị cản trở vì một sự vui thỏa hão huyền và tính tự phụ, các nhà giảng thuyết nên nhớ chức năng của mình mang tính tâm linh hơn là hùng biện. Đúng là phải sử dụng lời nói, nhưng sức mạnh có hiệu lực của việc này cốt tại tâm linh bên trong. Do đó, dầu có rao giảng nền học thuyết cao sâu tới đâu, với một nghệ thuật hùng biện và lối văn tao nhã đến mấy, kết quả bao giờ cũng tỉ lệ với tâm linh bên trong của người giảng. Vua Đavít viết: "Này Người lên tiếng, tiếng thật uy hùng" (Tv 67, 34) tức là chân lý lời Chúa luôn có hiệu lực, nhưng dù lửa tự nó vốn mang năng lực thiêu đốt, lửa sẽ chẳng đốt cháy khi không có sẵn chất đốt.

3 - Để cho học thuyết đem lại hiệu quả, cần dọn sẵn hai điều: một về phía nhà giảng thuyết, một về phía thính giả. Thường thì lợi ích tỉ lệ với sự chuẩn bị của người thuyết giảng; cho nên có câu: “Thầy nào, trò nấy”.

Trong sách Công Vụ Tông Đồ, khi bảy người con của vị thượng tế Do Thái học theo cách của thánh Phaolô để trừ quỷ, ma quỷ giận dữ bảo chúng: "Đức Giêsu, tao biết; ông Phaolô tao cũng tường, còn bay, bay là ai?" (Cv 19,15), rồi nó nhảy bổ vào chúng, xé nát y phục và đánh trọng thương. Lý do chính là vì nhóm người này không có được tư thái thích hợp chứ không phải là vì Chúa Kitô không muốn người ta trừ quỉ nhân danh Ngài. Có lần các Tông đồ thấy một kẻ nào đó không thuộc nhóm họ nhân danh Chúa Giêsu để trừ quỉ liền ngăn cấm, nhưng Chúa đã quở trách họ và bảo: "Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy" (Mc 9,39). Tuy nhiên, Chúa phẫn nộ với những kẻ giảng dạy lề luật Thiên Chúa mà chính họ lại không chịu giữ, rao giảng cho kẻ khác thần khí tốt lành mà nơi mình lại chẳng có thứ thần khí ấy. Vì thế, qua thánh Phaolô, Chúa đã cảnh cáo: "Các ngươi dạy dỗ kẻ khác mà lại chẳng giáo hóa chính mình, giảng dạy người ta đừng trộm cắp mà chính mình lại trộm cắp" (Rm 2,21). Chúa Thánh Thần cũng nói qua miệng vua Đavít: "Thiên Chúa phán cùng tội nhân: Thánh chỉ của Ta sao ngươi thường nhắc nhở, mở miệng ra là chữ thánh ước trên môi? Nhưng chính ngươi lại ghét điều sửa dạy, Lời Ta truyền đem vất bỏ sau lưng?" (Tv 49/50,16.17). Như vậy chúng ta có thể suy ra rằng Chúa sẽ không cho phép lời của một người như thế mang lại hoa trái.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 44: Qua các việc tôn sùng (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 44
QUA CÁC VIỆC TÔN SÙNG (tiếp theo)

3 - Như vậy, nơi các lời cầu xin ta phải qui hướng về Thiên Chúa mọi năng lực và sự vui thỏa của lòng muốn chứ đừng quá lo bám víu vào việc chế ra những nghi thức không được Hội thánh Công giáo sử dụng và phê chuẩn. Hãy để vị linh mục hành lễ theo thể cách của Hội thánh hoặc theo tập tục của Hội thánh nơi quê nhà vị ấy.

Người ta không được mong muốn đem vào sử dụng những cách thức mới như thể họ am hiểu hơn cả Chúa Thánh Thần và Hội thánh của Ngài. Giả như với sự đơn thành nói trên họ vẫn không được Thiên Chúa nghe lời thì họ hãy nên xác tín rằng có bày vẽ đủ nghi thức khác, Thiên Chúa cũng chẳng đáp lời đâu. Bởi lẽ, nếu người ta sống hợp với Thiên Chúa và làm theo ý Ngài thì Ngài sẽ thực hiện những gì họ muốn, còn nếu họ chỉ tìm lợi riêng của họ thì họ có ngỏ lời với Thiên Chúa cũng chỉ vô ích mà thôi.

4 - Còn nơi những nghi thức khác liên can tới việc cầu xin và những sùng mộ khác, ta đừng gắn bó lòng muốn vào những nghi lễ và cách thức cầu nguyện nào khác với những gì Chúa Kitô đã dạy bảo chúng ta (Lc 11,1-2). Khi các môn đệ xin Ngài dạy họ cầu nguyện, rõ ràng là Ngài đã dạy cho họ tất cả những gì cần làm để được Cha Hằng Hữu nhận lời, vì Ngài là Đấng biết rõ ý muốn của Chúa Cha. Ngài đã dạy bảo họ bảy điều trong kinh Lạy Cha, bao gồm hết mọi nhu cầu tâm linh và vật chất của ta. Ngài không đề ra cho họ nhiều cách về nói năng và nghi thức khác. Trái lại, Ngài còn bảo họ không được dùng nhiều lời trong lúc cầu nguyện bởi Cha chúng ta trên trời biết rõ những gì thích hợp cho chúng ta (x. Mt 6,7-8). Ngài nhấn mạnh giá trị lời cầu nguyện. Ngài khuyên chúng ta "phải luôn cầu nguyện không bao giờ ngừng" (Lc 18,1). Ngài còn dặn chúng ta phải kiên trì cầu nguyện theo lời kinh ấy với lòng nhiệt thành chăm chú, bởi lẽ, như đã nói, những lời kinh ấy bao gồm tất cả những gì nằm trong ý Chúa và tất cả những gì thích hợp cho chúng ta. Vì thế khi kêu cầu Cha Hằng Hữu ba lần ở vườn Cây Dầu, cả ba lần Chúa Quyền Uy cũng chỉ lặp lại những lời của Kinh Lạy Cha, theo lời thuật lại của các thánh sử: "Lạy Cha nếu Con không thể tránh chén này thì xin vâng theo ý Cha" (Mt 26,39; Mc 14,36; Lc 22,42).

Còn về nghi thức chúng ta dùng để cầu nguyện, Chúa cũng dạy chúng ta một trong hai cách sau: hoặc là chúng ta kín đáo cầu nguyện trong phòng riêng, không cần ầm ĩ hay báo cáo cho bất cứ ai, chúng ta có thể chu toàn với một tâm hồn toàn vẹn và tinh tuyền hơn theo như lời Ngài dạy: "Khi các ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng kín cửa lại mà cầu nguyện" (Mt 6,7); hoặc là chúng ta tìm đến những nơi hoang vắng cô tịch, như Chúa vẫn làm, vào thời gian tốt nhất và thanh thản nhất của ban đêm (Lc 6,12). Như thế, chúng ta chẳng còn phải định giờ định ngày, chẳng có chuyện lúc này thuận tiện hơn lúc khác cho việc sùng mộ của chúng ta, cũng chẳng nên sử dụng nhiều phương thế khác, nhiều lối “chơi chữ” hoặc lối cầu nguyện khác ngoại trừ những lời nguyện Hội thánh vẫn dùng và theo cách thức Hội thánh chỉ dẫn, bởi lẽ tất cả đều qui vào những lời cầu xin trong Kinh Lạy Cha, như chúng tôi đã nói.

5 - Nhưng không phải vì thế mà tôi kết án, ngược lại, tôi tán thành việc một số nguời dành riêng một số ngày cho các việc tôn sùng của họ chẳng hạn tuần cửu nhật, ngày ăn chay hoặc những việc tương tự. Tôi chỉ lên án cách thế và nghi thức cứng nhắc của họ trong việc sùng mộ như ngày xưa bà Giuđitha từng khiển trách dân thành Bethulia về việc họ dám định ra thời gian mà họ mong chờ lòng xót thuơng của Chúa, bà nói: "Các ngươi tính ấn định thời gian cho Chúa phải thực hiện lòng xót thương của Ngài sao? Như thế chẳng phải là để làm Chúa dủ lòng thương nhưng là để khiêu khích cơn thịnh nộ Ngài đấy" (Gđt 8,11-12).

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 44: Qua các việc tôn sùng

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 44
QUA CÁC VIỆC TÔN SÙNG

Phải làm thế nào để qui hướng lên Thiên Chúa sự vui thỏa và sức mạnh của lòng muốn qua các việc tôn sùng ấy.

1 - Những kẻ nói trên cần biết rằng họ càng tin cậy vào những nghi thức của họ thì càng ít cậy trông nơi Thiên Chúa và không nhận được điều họ mong ước.

Cũng có lắm người cầu nguyện vì tham vọng của họ chứ không phải vì danh dự của Thiên Chúa. Họ vẫn giả định là nếu điều họ cầu xin được Thiên Chúa ưng ý thì Ngài sẽ thực hiện, bằng không cũng chẳng sao, tuy nhiên do quá dính bén và tìm vui thỏa hão huyền về điều ấy nên họ háo hức gia tăng lời cầu xin. Lẽ ra họ nên qui hướng các lời cầu xin này vào việc thực hành những điểm có tầm quan trọng đối với họ hơn, chẳng hạn sự thanh tẩy lương tâm và học hiểu những vấn đề liên can tới ơn cứu độ đồng thời loại xa những gì chẳng liên can đến hai điểm ấy. Nhờ đó, họ sẽ nhận được những ơn quan trọng hơn và đồng thời cũng nhận được tất cả mọi thứ khác phù hợp với họ (mặc dù họ chẳng cầu xin những thứ này) một cách dồi dào và sớm sủa vượt hẳn trường hợp họ dùng mọi nỗ lực để xin điều họ ao ước.

2 - Đó là điều Chúa đã từng hứa trong Tin Mừng: "Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho" (Mt 6,33). Đó là khát vọng và là lời nguyện xin hợp ý Thiên Chúa hơn hết. Để đạt được các ước muốn của tâm hồn chúng ta chẳng có phương thế nào hay hơn là đặt sức mạnh của lời chúng ta cầu nguyện vào điều làm Thiên Chúa vui thích nhất. Khi đó, không những Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta điều chúng ta xin Ngài, tức ơn cứu độ, mà còn ban cho chúng ta những gì thích hợp và tốt lành cho chúng ta dầu chúng ta không xin. Vua Đavít đã cho ta hiểu điều ấy nơi lời thánh vịnh: "Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Ngài" (Tv 144,18), tức những kẻ xin Ngài những điều chân thật nhất, chẳng hạn những điều liên can tới ơn cứu độ. Như Đavít có nói tiếp liền sau đó: "Kẻ kính sợ Ngài, Ngài cho toại nguyện, nghe tiếng họ kêu than, và ban ơn giải cứu, Chúa gìn giữ mọi kẻ mến yêu Người" (Tv 144,19-20). Và như thế, sự gần gũi được vua Đavít đề cập ở đây không gì khác hơn việc Thiên Chúa làm thỏa lòng những kẻ nói trên và ban cho họ những thứ họ chẳng hề dám nghĩ có thể xin. Ta cũng đọc thấy trong Thánh Kinh vua Salômôn đã xin một điều khiến Thiên Chúa hài lòng, đó là xin được sự khôn ngoan để cai trị dân Ngài một cách công minh. Thiên Chúa đã trả lời nhà vua như sau: "Vì ngươi có những tâm tư như thế, ngươi đã không xin cho được giàu sang phú quí và vinh quang cũng không xin cho những kẻ ghét ngươi phải chết, hay cho bản thân ngươi được sống lâu nhưng chỉ xin cho ngươi được khôn ngoan và hiểu biết để lãnh đạo dân ta Ta, dân mà Ta đã đặt ngươi làm vua cai trị, cho nên ngươi sẽ được khôn ngoan và hiểu biết. Hơn nữa, giàu sang, phú quí và vinh quang Ta cũng sẽ ban cho ngươi đến nỗi trước và sau ngươi, không có vua nào sánh với ngươi được" (2Sb 1,11¬12). Quả thực Thiên Chúa đã thực hiện những điều ấy. Ngài dẹp yên mọi kẻ thù địch của nhà vua đến nỗi các dân tộc chung quanh đều phải triều cống và chẳng dám nổi loạn chống nhà vua (x. 1V 4,21-24). Chúng ta cũng đọc thấy điều nói trên nơi sách Sáng Thế Ký ở đoạn Thiên Chúa hứa với Abraham rằng sẽ gia tăng dòng dõi người con chính thức của ông thành đông đúc như sao trời theo lời thỉnh cầu của ông, đồng thời Thiên Chúa còn phán thêm: "Ta sẽ gia tăng hậu duệ của đứa con trai người tỳ nữ vì nó là con trai của ngươi" (St 21,13).

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 43: Những nghi thức đủ loại

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 43
NHỮNG NGHI THỨC ĐỦ LOẠI

Bàn về những nghi thức đủ loại có tác dụng lay động cõi lòng mà nhiều người dùng để cầu nguyện.

1- Những sự vui thỏa vô ích và những dính bén bất toàn chúng tôi vừa nói, có thể được dung thứ, theo nghĩa là nhiều khi người ta rơi vào đó cách ngây thơ vô tội. Nhưng không thể chấp nhận được sự quyến luyến quá mức mà một số người đang dành cho đủ loại nghi thức do những kẻ thiếu sáng suốt và thiếu đức tin chân thành bày vẽ ra.

Tôi không bàn đến ở đây những nghi thức có những tên gọi dị thường với những từ chẳng có ý nghĩa gì cả, cũng không bàn đến những câu nói phàm tục mà những kẻ ngu dốt, những linh hồn khờ khạo đa nghi thường pha trộn vào các lời nguyện của họ. Những chuyện ấy rõ ràng là xấu xa, nhuốm màu tội lỗi và nhiều khi là do bí mật giao kết với ma quỷ. Những chuyện bày đặt như thế thay vì lôi kéo được lòng xót thương của Thiên Chúa, sẽ chỉ khiêu khích cơn thịnh nộ của Ngài.

2 - Tôi không bàn đến các chuyện ấy mà chỉ muốn nói đến một số nghi thức dầu không có gì mê tín dị đoan, hiện đang được nhiều người sử dụng với một lòng sùng mộ thiếu cẩn trọng. Họ quá tin tưởng vào những cách họ dùng để làm việc đạo đức hoặc cầu nguyện và gán cho các kiểu sùng mộ của họ cái hiệu lực đến nỗi, nếu chỉ bỏ sót một trong các điều chỉ dẫn vạch sẵn hoặc lỡ vượt quá qui định một chút, lập tức họ cho rằng các nghi thức ấy bất thành và Thiên Chúa sẽ chẳng nhậm lời. Họ tin cậy vào những cách thức ấy hơn là vào chính lời cầu nguyện, và điều đó quả là bất kính và xúc phạm đến Thiên Chúa rất nhiều. Chẳng hạn, họ cho rằng trong thánh lễ phải đốt đủ bao nhiêu cây nến không hơn không kém. Hoặc họ cho rằng linh mục phải hành lễ theo kiểu này kiểu kia, vào một giờ giấc nào đó không được sớm hơn hoặc muộn hơn, hoặc phải vào một ngày chính xác nào đó không sau không trước; các lời cầu nguyện và các chặng đường thánh giá phải theo đúng số, đúng kiểu, kèm với một số nghi thức nào đó không được làm trước làm sau, không được làm theo kiểu khác và người cử hành nghi thức phải có được những năng khiếu đặc tính nào đó. Họ cho rằng nếu chỉ thiếu sót một trong các điều trên thì tất cả kể như hỏng hết.

3 - Điều tệ hại hơn nữa và cũng là điều không thể dung thứ, đó là một số người còn ao ước cảm nhận được một hiệu quả nhất định nào đó nơi những chuyện nói trên, muốn điều họ cầu xin hoặc mục đích lời cầu xin của họ sẽ thành hiện thực một khi họ hoàn tất các nghi thức ấy. Như thế, đúng là thử thách Thiên Chúa và chọc giận Ngài một cách nghiêm trọng. Thế nên đôi khi Thiên Chúa cho phép ma quỷ phỉnh gạt họ, nó khiến họ cảm nhận hoặc nghe được nhiều điều chẳng lợi ích gì cho linh hồn họ. Họ đáng phải chịu như thế bởi đã quá dính bén với cách thức họ bày vẽ ra để cầu nguyện, họ muốn ý họ được thực hiện chứ không phải ý Thiên Chúa. Do đó họ chẳng gặt hái được gì cả bởi không biết đặt tất cả niềm cậy tin vào nơi Thiên Chúa.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 42: Tại những nơi tôn sùng (2) (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 42
TẠI NHỮNG NƠI TÔN SÙNG (2) (tiếp theo)

3 - Loại địa điểm thứ hai có tính cách đặc thù hơn: Có những địa điểm, không kể là hoang địa hay các nơi chốn khác, dễ lay động lòng ta hướng đến sùng mộ. Ở đó Thiên Chúa đã ban một số ân sủng tâm linh rất dịu ngọt cho một số người đặc biệt. Thế nên tâm hồn những người này thường hướng về nơi họ từng được lãnh nhận ân sủng nói trên, đôi khi họ rất khát mong và khắc khoải muốn trở lại đó dù không phải lần nào cũng gặp lại được ân sủng trước kia, bởi điều này vượt ngoài tầm tay họ, vì Thiên Chúa ban phát ân sủng lúc nào, cách nào và nơi nào tùy Ngài. Ngài không bị lệ thuộc vào thời gian, nơi chốn hoặc ý muốn của người lãnh nhận ân sủng.

Dù vậy, nếu thấy lòng thanh thản không mê thích dính bén lệch lạc, thỉnh thoảng vẫn nên tới nơi ấy để cầu nguyện, vì ba lý do sau đây. Một là, mặc dù Thiên Chúa không hề bị lệ thuộc vào bất cứ địa điểm nào, dường như Ngài vẫn muốn được linh hồn ngợi ca tại nơi Ngài đã ban ơn. Hai là, khi trở lại nơi ấy, linh hồn dễ tưởng nghĩ hơn đến việc cảm tạ Thiên Chúa về ơn mình đã nhận được ở đó. Ba là, việc tưởng nhớ ơn đã nhận được ở đó sẽ kích thích lòng sùng mộ của linh hồn ấy nhiều hơn nữa.

4 - Ta nên trở lại đó vì ba lý do ấy chứ đừng nghĩ rằng Thiên Chúa bị bó buộc phải ban ơn tại nơi đó đến nỗi Ngài không thể ban các ơn ấy ở bất cứ nơi nào Ngài muốn. Quả thật, không một địa điểm vật chất nào thích hợp và tươm tất hơn đối với Thiên Chúa bằng chính linh hồn người ta.

Về điều này, trong Thánh Kinh (St 12,8) chúng ta đọc thấy ông Abraham đã dựng lên một bàn thờ tại nơi Thiên Chúa từng hiện ra với ông và ông đã kêu cầu danh thánh Ngài tại đó; rồi khi từ Ai Cập trở về, Abraham lại đi theo con đường mà Thiên Chúa đã hiện ra với ông và ông đã kêu cầu danh Ngài một lần nữa tại chính nơi bàn thờ ông đã xây ngày trước (St 12,8; 13,4). Ông Giacóp cũng ghi dấu nơi Thiên Chúa đã hiện ra với ông trên đỉnh một cái thang bằng cách dựng lên tại đó một tảng đá được xức dầu (St 28,13-18). Còn Aga thì rất quí chuộng nơi Thiên Thần đã hiện ra cùng bà và đã đặt tên cho chỗ đó, bà nói: "Chắc chắn tại nơi đây tôi đã trông thấy bờ vai của Đấng nhìn thấy tôi" (St 16,3).

5 - Loại địa điểm thứ ba là một số nơi đặc biệt mà Thiên Chúa chọn để Ngài được kêu cầu và phụng sự tại đó, chẳng hạn núi Sinai, nơi Thiên Chúa ban lề luật cho Môsê (Xh 24,12); nơi Thiên Chúa đã chỉ định cho Abraham hiến tế con ông (St 22,2); hay núi Khôrép, nơi Thiên Chúa hiện ra với thánh phụ Êlia của chúng ta (1V 19,8). (Và núi Gargani, nơi thánh Micae hiện ra với Giám mục Siponto và bảo vị này xây cho Thiên Chúa một nguyện đường tại đó nhằm tưởng nhớ các thiên thần, cũng như qua phép lạ xuống tuyết, Đức Trinh Nữ Diễm Phúc đã chỉ định thánh Patrixiô xây lên tại nơi nọ ở Rôma một giáo đường kính Ngài).

6 - Vậy chỉ có Thiên Chúa mới biết được tại sao Ngài chọn nơi này hơn nơi khác để tại đó Ngài được ngợi khen tán tụng. Chúng ta chỉ nên biết rằng tất cả đều nhằm lợi ích của chúng ta. Thiên Chúa lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta tại những nơi ấy cũng như bất cứ nơi đâu mà chúng ta cầu khẩn với đức tin toàn vẹn. Tuy nhiên lời cầu của chúng ta sẽ được Thiên Chúa nghe đến hơn ở những nơi chốn được cung hiến cho việc phụng sự Ngài bởi vì Hội thánh đã chỉ định và cung hiến những nơi chốn ấy cho việc cầu nguyện.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 42: Tại những nơi tôn sùng (2)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 42
TẠI NHỮNG NƠI TÔN SÙNG (2)

Về ba loại địa điểm tôn sùng khác nhau và lòng muốn phải xử sự thế nào cho đúng trước những loại ấy.

1 - Tôi thấy có ba loại địa điểm Thiên Chúa thường dùng để lay động lòng muốn hướng tới sùng mộ.

Thứ nhất là một số cảnh vật có được dáng vẻ đẹp mắt phong phú hoặc do sự bài trí đất đai hoặc do cây cối hay sự yên tịnh tịch liêu, tự nhiên dễ kích thích lòng sùng mộ của người ta. Khi sử dụng chúng mà biết lập tức nâng lòng muốn lên với Thiên Chúa và quên ngay những địa điểm ấy thì thật hữu ích. Để đạt tới mục đích người ta không được dừng lại ở phương thế và những yếu tố thúc đẩy nhiều hơn mức cần thiết. Ai cố tìm cách thỏa mãn mê thích và chạy theo cái thú vị cảm giác nơi các địa điểm ấy, sẽ gặp phải khô khan và chia trí, bởi lẽ nhận thức và sự thỏa mãn tâm linh chỉ có thể tìm được nơi sự lắng đọng bên trong.

2 - Do đó khi tới cầu nguyện tại một địa điểm như thế ta phải quên ngay đi cảnh trí và cố gắng lắng lòng nơi Thiên Chúa như thể mình hiện không ở tại một địa điểm như thế. Bởi nếu cứ qua lại kiếm tìm hương vị và vui hưởng cảnh trí thì rõ ràng ta đi tìm sự giải trí khả giác và sự bất định của tâm hồn chứ không phải sự an tịnh tâm linh.

Chính vì thế tại những vùng hoang địa bao la hoành tráng nhất, các ẩn sĩ và nhiều thánh ẩn tu khác vẫn chọn cho mình những mảnh đất nhỏ bé vừa đủ, dựng lên những tu phòng và hang động chật hẹp để giam mình vào đó. Thánh Biển Đức đã sống như thế trong ba năm trời. Một vị khác, thánh Simon, đã dùng sợi dây cột vào người để khỏi đi xa quá mức chiều dài sợi dây cho phép. Nhiều vị khác cũng hành động theo lối sống này mà chúng tôi không thể kể tên ra hết. Bởi các vị thánh ấy đều hiểu rõ nếu không dập tắt được mê thích cũng như sự tham lam tìm kiếm thích thú và hương vị tâm linh, họ sẽ không thể nào trở thành những người sống theo tâm linh chân chính được.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 41: Tại những nơi tôn sùng

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 41
TẠI NHỮNG NƠI TÔN SÙNG

Về một số tệ hại dễ xảy đến cho những kẻ chạy theo cái thích thú khả giác về những vật và những nơi tôn sùng đạo đức, theo cách chúng tôi đã đề cập.

1 - Nếu người sống theo tâm linh liều mình tìm hưởng hương vị khả giác nơi những sự vật nói trên, sẽ phải chịu nhiều tệ hại, cả bên trong lẫn bên ngoài. Về tâm linh, họ sẽ không bao giờ đạt được sự lắng đọng bên trong của tâm linh, vốn cốt ở chỗ vượt lên trên tất cả những điều ấy, để cho linh hồn quên hẳn những hương vị khả giác ấy và sắm được các nhân đức với tất cả sức mạnh. Còn về bên ngoài, họ sẽ không có được thói quen ở bất cứ nơi nào cũng cầu nguyện được, mà chỉ cầu nguyện được ở những nơi hợp sở thích của họ. Từ đó nhiều khi họ bỏ cầu nguyện vì, như người ta thường nói, họ chỉ quanh quẩn ở trường làng.

2 - Ngoài ra, mê thích lệch lạc ấy còn khiến họ thay đổi thất thường. Những người thuộc nhóm này chẳng bao giờ ở yên được một chỗ, không kiên trì được với một bậc sống; bạn thấy họ khi ở nơi này, lúc ở chốn khác, khi thì rút vào ẩn cốc này lúc thì chỗ ẩn tu nọ, khi thì bài trí nguyện đường này, lúc thì một nguyện đường khác...

Trong số đó lại có những người bỏ cả cuộc đời để thay đổi cảnh sống và kiểu sống, do chỉ nhiệt tình và hứng thú ở bình diện khả giác đối với sự việc tâm linh. Họ chẳng bao giờ chịu cố gắng đạt tới sự lắng đọng tâm linh bằng cách buông bỏ lòng muốn, hạ mình vui nhận những điều trái ý. Do đó, hễ thấy một chỗ sùng mộ nào có vẻ hợp ý hoặc một lối sống phù hợp tính khí và khuynh hướng của họ hơn, họ liền bỏ hết những gì đang có để chạy theo. Bởi cứ bị lay chuyển bởi cái thích thú khả giác ấy, chẳng bao lâu họ lại tìm kiếm một thứ khác, vì thích thú khả giác vốn thất thường và mau tàn lụi.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 40: Tại những nơi cầu nguyện

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 40
TẠI NHỮNG NƠI CẦU NGUYỆN

Bàn tiếp về việc định hướng cho tâm linh đạt được sự lắng đọng bên trong tại những nơi cầu nguyện.

1 - Lý do khiến một số người sống theo tâm linh không bao giờ đạt được sự vui thỏa đích thực của tâm linh chính là vì họ chẳng bao giờ triệt bỏ được cái mê thích muốn được vui thỏa từ những sự vật bề ngoài hữu hình ấy. Họ nên biết rằng mặc dầu nơi xứng hợp được dành riêng cho các việc cầu nguyện là đền thờ và nguyện đường hữu hình cũng như ảnh tượng là những yếu tố lay động việc cầu nguyện, tuy nhiên, phải làm sao cho sự vui thỏa say mê và hương vị của linh hồn không chỉ phát sinh từ cái đền thờ hữu hình và đánh động kia khiến người ta quên mất việc cầu nguyện nơi đền thờ sống động tức chốn lắng lòng định trí của linh hồn. Nhằm cảnh giác chúng ta điều ấy Thánh Tông Đồ đã nói: "Anh em hãy xem, thân xác anh em là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, Đấng cư ngụ trong anh em" (1Cr 3,16). Quan điểm này phù hợp với lời xác định của Chúa Kitô ta đã nêu trên, tức là "những kẻ thực sự tôn thờ Chúa Cha phải là những kẻ tôn thờ Ngài trong thần khí và sự thật" (Ga 4, 24). Thiên Chúa chẳng ngó gì đến các nguyện đường và những nơi chốn bạn trang hoàng để cầu nguyện nếu qua những vui thỏa và mê thích hướng vào các nơi đó, bạn bị dính bén, giảm mất sự trần trụi nội tâm, tức đức nghèo khó tâm linh, vốn đòi hỏi bạn phải loại bỏ tất cả những gì bạn có thể chiếm hữu.

2 - Để thanh tẩy lòng muốn khỏi sự vui thỏa và mê thích hão huyền nơi những điều nói trên và qui hướng lòng muốn về Thiên Chúa, khi cầu nguyện bạn chỉ nên lưu tâm xét xem lương tâm mình có tinh tuyền, lòng muốn mình có hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và tâm trí mình có thực sự gắn chặt vào Ngài không. Rồi, như tôi đã nói, bạn phải chọn nơi nào hẻo lánh và cô tịch nhất, và hướng tất cả sự vui thỏa của lòng muốn vào việc khẩn cầu và tôn vinh Thiên Chúa. Bạn đừng bận tâm gì đến những cái thích thú lặt vặt có tính bề ngoài ấy, trái lại nên cố gắng từ khước chúng. Nếu linh hồn vướng phải cái vui thỏa với sự sùng mộ khả giác, nó sẽ chẳng bao giờ đạt được tới sức mạnh của sự hoan lạc tâm linh vốn được khám phá nhờ sự lắng lòng định trí vào sự trần trụi tâm linh.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 39: Các nguyện đường và đền thờ

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 39
CÁC NGUYỆN ĐƯỜNG VÀ ĐỀN THỜ

Bàn về cách dùng các nguyện đường và đền thờ. Làm thế nào để nhờ chúng mà hướng tâm linh lên với Thiên Chúa.

1 - Để hướng tâm linh lên với Thiên Chúa nơi loại điều tốt này, ta cần nhớ rằng rất có thể và, hơn nữa, nên cho phép những người mới bắt đầu được tìm đôi sự thích thú và thỏa mãn khả giác nào đó đối với các ảnh tượng, phòng nguyện cũng như các đồ vật sùng kính hữu hình khác. Bởi vào lúc này những người ấy chưa thể bỏ đồ ăn bằng sữa cũng như chưa thể bỏ cái thích thú những sự vật trần gian mà nhờ đó họ dứt bỏ được những thích thú hạ đẳng khác. Chẳng khác nào khi muốn lấy vật gì đó khỏi bàn tay một đứa bé, người ta thường cho nó một vật khác, để nó khỏi khóc vì thấy tay mình trống rỗng.

Tuy nhiên, muốn tiến bộ, người sống theo tâm linh phải tước bỏ hết mọi sự thú vị và mê thích có thể khiến lòng muốn của họ vui thỏa. Bởi lẽ, một tâm linh tinh tuyền sẽ không dính bén với bất cứ thứ gì trong những vật ấy mà sẽ chỉ ở trong trạng thái lắng đọng và hiệp thông với Thiên Chúa tận tâm hồn. Dù họ có vận dụng lợi ích của ảnh tượng và nguyện đường, cũng chỉ là chuyện tạm thời bởi ngay lập tức họ nâng tâm linh lên với Thiên Chúa, quên hết mọi đối tượng khả giác.

2 - Mặc dầu cầu nguyện ở những nơi tươm tất thì tốt hơn, tuy nhiên ta vẫn phải để ý chọn nơi nào mà giác quan và tâm linh ít bị ngăn cản hơn trên đường tiến đến với Thiên Chúa. Về điều này tưởng nên nhớ câu Chúa đã trả lời cho người phụ nữ Samari khi bà này hỏi Chúa nơi nào thích hợp cho việc cầu nguyện hơn, tại đền thờ Giêrusalem hay trên núi Garizim (Ga 4,13-14)? Câu trả lời ấy có ý nói: Lời cầu nguyện chân thực chẳng gắn liền với ngọn núi hay với đền thờ, những người phụng thờ đẹp lòng Thiên Chúa nhất chính là những người biết phụng thờ Ngài "trong thần khí và sự thật" (Ga 4,23-24).

Các đền thờ và những nơi chốn tươm tất được dâng hiến và thích hợp cho việc cầu nguyện và không được dùng đền thờ vào các việc khác. Tuy nhiên khi trò chuyện nội tâm với Thiên Chúa ta cần phải chọn nơi chốn nào giác quan ít bị xâm chiếm và lôi kéo nhất. Do đó không được chọn những nơi làm giác quan vui thích dễ chịu, như một số người thường tìm đến, kẻo thay vì lắng lòng định trí nơi Chúa, người ta lại ngụp lặn trong chuyện tiêu khiển thú vị và êm dịu cho giác quan. Vì thế, một nơi chốn cô tịch thậm chí “khổ hạnh” vẫn là một chỗ tốt để giúp tâm linh vững mạnh bay thẳng lên cùng Chúa mà không bị ngăn cản hay cầm hãm nơi các sự vật hữu hình. Đôi khi những vật hữu hình có giúp tâm linh nâng cao nhưng với điều kiện phải quên chúng ngay và dừng lại nơi Thiên Chúa. Để nêu gương cho chúng ta, xưa khi còn tại thế, Chúa Giêsu vẫn thường chọn nơi hoang vắng để cầu nguyện (Mt 14,23) hoặc những chỗ giác quan ít bị xâm chiếm và dễ nâng linh hồn lên với Thiên Chúa, chẳng hạn những ngọn núi cao cách xa mặt đất và thường khô chồi chẳng đem lại sự tiêu khiển nào cho giác quan. (Mt 14,23; Mc 1,35; 6,64; Lc 9,18-28; 6,12; Ga 6,15).

3 - Do đó người sống theo tâm linh chân chính chẳng bao giờ bận tâm xem xét nơi chốn cầu nguyện có tiện nghi thoải mái không, bởi như vậy chứng tỏ họ vẫn còn dính bén với giác quan. Họ chỉ bận tâm đến sự lắng lòng và quên hết chuyện này chuyện nọ. Để được vậy, họ sẽ chọn chỗ nào không vướng những đối tượng khả giác và những thỏa mãn giác quan. Họ quay lưng lại với tất cả những gì khả giác để một khi thoát ly khỏi các loài thụ tạo, họ có thể vui hưởng sự cô tịch với Thiên Chúa nhiều hơn. Một số người sống theo tâm linh dùng tất cả thời giờ của họ để bài trí các phòng nguyện và sắp xếp nhiều nơi chốn thoải mái hợp với tính khí và khuynh hướng của họ nhưng lại rất ít lưu ý đến sự lắng đọng bên trong vốn là nhân tố quan trọng nhất. Nếu biết lắng lòng họ sẽ không còn tìm thỏa mãn nơi cách này kiểu nọ nhưng sẽ cảm thấy mệt mỏi vì những chuyện ấy.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 3 - Chương 38: Các nguyện đường (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 3

CHƯƠNG 38
CÁC NGUYỆN ĐƯỜNG (tiếp theo)

3 - Tôi sẽ phải nói gì về những toan tính vụ lợi của một số người đứng ra tổ chức những lễ hội nói trên? Với lòng ham hố, họ dán mắt vào lợi lộc riêng tư hơn là vào việc phụng sự Thiên Chúa. Họ biết rõ điều ấy và Thiên Chúa cũng thấy rõ điều ấy. Tuy nhiên dù cách thức nào đi nữa, khi mọi chuyện diễn ra như vậy, thì đúng là họ tổ chức lễ lạc ấy cho chính họ chứ không phải cho Thiên Chúa.

Quả thật, những gì họ làm để tự thỏa mãn hoặc để thiên hạ thỏa mãn thì Thiên Chúa chẳng thưởng công. Ngài sẽ phẫn nộ đối với những kẻ vênh vang với các buổi lễ tôn vinh Ngài nhưng lại chỉ tìm tiêu khiển cho chính họ. Đúng như Ngài đã xử sự với con cái Israel khi họ ca hát nhảy múa chung quanh tượng thần của họ mà cứ tưởng như đang mừng kính Thiên Chúa, khiến Ngài đã giết chết nhiều ngàn người trong bọn họ (Xh 32,7-28). Hoặc như trường hợp hai vị tư tế Nakal và Abind con của Aaron đã bị Thiên Chúa giết chết trong lúc tay họ vẫn cầm bình hương bởi họ đã dâng cho Ngài thứ lửa ngoại lai (Lv 10,1-2). Hoặc trường hợp gã nọ tới dự tiệc cưới mà ăn bận lôi thôi không khoác lễ phục lên người nên đã bị đức vua ra lệnh cột tay cột chân, quẳng vào nơi tối tăm (Mt 22,12-13). Các trường hợp nêu trên cho thấy Thiên Chúa không dung thứ những bất kính đối với Ngài nơi những lễ hội được tổ chức để phụng sự Ngài. Ôi lạy Chúa! Biết bao con cái loài người đã tổ chức lễ lạc để tôn vinh Chúa nhưng tại đó ma quỷ lại được quí chuộng hơn Chúa! Như một gã lái buôn, ma quỷ rất thỏa chí tại các buổi lễ hội, hắn làm ăn khấm khá ở đó như buổi hội chợ phiên vậy. Hẳn biết bao lần Chúa nói về đám người hiện diện tại các buổi lễ hội ấy: "Dân này tôn kính Ta bằng đầu môi chóp lưỡi còn lòng chúng thì xa Ta, bởi chúng đã phụng sự Ta không đúng cách!" (Mt 15,8-9).

Ta phải phụng sự Chúa chỉ vì Ngài là Thiên Chúa chứ không được xen vào đó những mục đích khác. Ai không phụng sự Chúa chỉ vì Ngài là Thiên Chúa thì có nghĩa là đã phụng sự Ngài mà không nhận Ngài là cứu cánh.

4 - Trở lại đề tài các phòng nguyện, tôi xin nói rằng một số người trang hoàng chúng cốt để làm hài lòng họ hơn làm hài lòng Thiên Chúa. Một số khác lại quá lơ là trong việc sùng kính những nơi chốn ấy đến nỗi họ không trân trọng cho bằng phòng để quần áo phàm tục của họ. Một số khác lại chẳng thèm quan tâm đến chúng bởi họ ham thích chuyện phàm tục hơn chuyện thiêng thánh.

5 - Tuy nhiên bây giờ hãy bỏ qua chuyện đó mà hãy nói về những kẻ “chẻ sợi tóc làm tư” nghĩa là những kẻ tự cho mình là đạo đức, nhiệt thành. Nhiều người trong số họ quá quyến luyến và thích thú với phòng nguyện của họ cũng như lối trang trí phòng nguyện ấy đến nỗi thay vì dồn hết năng lực và thời gian cho việc cầu nguyện và lắng lòng họ lại phung phí vào việc trang trí phòng nguyện. Họ không nhận ra rằng việc trang trí phòng nguyện không tạo thuận lợi cho sự lắng đọng và bình an tâm hồn nên họ bị chia trí nhiều vì chuyện này cũng như vì những chuyện khác. Một sự thích thú như thế khiến họ bị bất an liên tục, và nếu có ai muốn dẹp chuyện ấy đi thì họ còn bất an hơn nữa.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)