Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Vì thế, việc tôn sùng các Thánh, vừa là nêu lên những gương mẫu, nhưng cũng chính là vừa ngợi khen kỳ công của Thiên Chúa đã nâng những con người hèn yếu tội lỗi lên đến đỉnh cao, để như một lời kêu gọi hứa hẹn cho mọi người thấy rằng những con người ấy cũng chỉ là những thụ tạo mỏng giòn, cũng có thể ngu tối như bất cứ ai, nhưng được nâng cao như vậy thì ai cũng hy vọng mình có thể được như thế.
Do đó, các Thánh của Kitô giáo, như tôi đã nói ở trên, như là những tia sáng phát xuất từ cùng một Mặt Trời là chính Đức Giêsu Kitô. Việc tôn kính các Thánh và tôn kính Đức Maria, thực ra cũng chỉ là tôn kính Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, bởi vì các Thánh, một mặt thì có dạng cá nhân, ngã vị duy nhất, độc đáo, nhưng mặt khác, có dạng chẳng qua chỉ là một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô...

Quả thật, thuở ban đầu, chính Phaolô cũng gọi các tín hữu là các thánh. Các thánh ở đây không phải là đã đạt được lý tưởng theo quan niệm thánh hiền, chẳng hạn như trong Khổng giáo, trong các triết thuyết của Hy Lạp mà một số người đã thực hiện được, ví dụ như Epictète [Epictète là một triết gia theo chủ nghĩa Khắc kỷ Hy Lạp. ông sinh ra như là một nô lệ tại Hierapolis, Phrygia và sống ở Rome cho đến khi bị trục xuất, và đến sống tại Nicopolis ở phía tây bắc Hy Lạp cho đến hết đời. Những lời dạy của ông đã được học trò Arrian chép ra và xuất bản trong các tác phẩm Discourses và Enchiridion của ông. (Wikipedia)], Marc Aurèle, như Thất Thập Nhị Hiền của Khổng giáo, nhưng chỉ là con người, dù đã lỡ lầm sa đọa đến đâu, trong một giây phút nào đó được ánh sáng hoàn hảo, từ Mặt Trời công chính là Đức Giêsu Kitô, rọi vào.

Nói một cách cụ thể, chẳng hạn chiếu chỉ vua thì được gọi là "thánh chỉ", không phải do bản chất tấm lụa hoặc tấm giấy viết chiếu chỉ là quý nhưng, cho dẫu chiếu chỉ được viết trên một tấm giấy bổi tầm thường, mà một khi đã được triện son của đấng quân vương đóng vào thì cũng trở thành "thánh chỉ". Người Kitô hữu quỳ gối trước bất kỳ ảnh tượng của một vị thánh nào, thì cũng như ngày xưa thần dân quỳ gối trước thánh chỉ, tôn kính không phải tấm lụa hoặc tấm giấy đôi khi rất là tầm thường, nhưng là tôn kính chính dấu ngọc tỉ đã được in lên trên đó. Xét về một phương diện nào, bất cứ ai biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Cứu độ, thì khác nào một tờ giấy, dù tầm thường đến đâu, biết trải rộng ra để Đấng Toàn năng in dấu ấn của Ngài vào, và thế là trở thành "Thánh chỉ".

Vì vậy, gần đây có một người phụ nữ rất tầm thường, rất hèn yếu, như là mẫu mực của đức khiêm tốn, vẫn cả dám nói là mình nhất định trở thành một vị thánh lớn; thoạt mới nghe qua, có vẻ như người đó quá tự kiêu, nhưng "thánh lớn", theo quan niệm Kitô giáo, không phải là hoàn toàn do công trạng của mình mà trở nên thánh nhân, trượng phu, quân tử, anh hùng, nhưng chỉ là khiêm tốn biết rằng mình hoàn toàn được Thiên Chúa yêu thương cứu độ và mình mở rộng lòng đón nhận ơn cao trọng đó: vì vậy. sự thánh thiện mà người nữ yến hèn ấy, tức là Têrêsa Hài đồng Giêsu, muốn vươn lên và tin tưởng mình sẽ thực hiện được, chẳng qua chỉ là sự thánh thiện của chính Thiên Chúa và con người được mời gọi thông dự vào mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh

Và bây giờ, tôi xin trình bày một điểm khác: đó là việc tôn kính các Thánh trong đời sống tôn giáo của Kitô giáo, nhất là của Công giáo. Bất cứ con người nào cũng được mời gọi thông dự hai chiều và gần như đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, như thánh Phaolô đã nói: "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi", và cũng chính vị Tông đồ dân ngoại cũng đã nói: "Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thấn Thiên Chúa ngự trong anh em" (lCr 3,9b-11.16-17), hoặc là như Đức Chúa Giêsu đã hứa hẹn, “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy" (Ga 14,23-29).

Một Kitô hữu đón nhận Tin vui. chịu các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể để kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, thi có một phần nào trở thành như Thiên Chúa, thể hiện một cách hoàn hảo hình ảnh Thiên Chúa trong chính bản thân mình, mà đã là hình ảnh của Thiên Chúa, thì đương nhiên việc tôn kính các hình ảnh của Thiên Chúa là hợp tình hợp lý.

Những mẫu người mà cộng đoàn Kitô giáo, cách riêng là Công giáo nhìn nhận như là đã được thông dự, đồng hóa cách nào đó với chính Đức Giêsu Kitô, trở nên đối tượng của việc tôn kính, tất nhiên là không phải là tôn thờ, "adoration" - sự tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Những mẫu người đó, trước hết là những gương mẫu mà Giáo hội nêu lên để các tín hữu bắt chước noi theo, đồng thời còn là một khích lệ, bởi vì dù có thánh đến đâu thì cũng chỉ là thân phận con người, lúc nào cũng phải phấn đấu với bản thân, phải dứt bỏ khỏi những quyến rũ và có nhiều khi phải ngoi lên khỏi những sa ngã trầm trọng... để qua đó cho bất cứ ai cũng đừng tuyệt vọng, miễn là chưa trút hơi thở cuối cùng, chỉ cần quay đầu lại trong chốc lát thì có khả năng đạt được chính cái cứu cánh của mình.

Vả chăng, như thánh Phaolô, một vị thánh có thể nói là lớn nhất trong Kitô giáo, đã than thở rằng: "Thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi... Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này" (x. 2Cr. 12,7...). Thánh nhân quả quyết: "Thiên Chúa không để anh em bị thử thách quá sức" (x. lCr 10.13); và đồng thời cũng than thở: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?" Và ngài tự trả lời: "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Rm 7, 15-16… 24). Những vị mà cộng đoàn Ki tô giáo, nhất là Công giáo, tôn lên bậc hiển thánh, chẳng qua chỉ là những con người được cứu rỗi mà thôi, chứ chính bản thân các ngài luôn luôn ý thức mình là kẻ tội lỗi, luôn luôn cảnh giác phấn đấu, ý thức rằng, dù lên cao đến đâu cũng vẫn có thê sa ngã, và có những người đã sa ngã.

Tôi xin kể lại một câu chuyện, đó là thánh Đômincô, một trong những vị thánh lớn của Công giáo. Một lần, đang lúc đêm tối, thánh nhân với một môn đệ của mình trú lại trong một căn lều chật hẹp. Người môn đệ vô ý khạc nhổ văng trúng mặt ngài và liền hoảng hốt xin ngài tha lỗi. Thánh nhân đã trả lời: “Không sao đâu con, con làm đúng rồi đó! Trong vũ trụ này, chỉ có mặt cha là đáng để bị khạc nhổ vào”; nghĩa là những vị thánh của Kitô giáo là những con người càng lên cao bao nhiêu càng ý thức được thân phận hèn kém tội lỗi của mình bấy nhiêu, vì thế cho nên, nhân đức yêu mến đã đành, nhưng luôn có kèm theo nhân đức khiêm nhượng trong lòng, tự xem mình như là kẻ rốt cùng của nhân loại, chẳng qua được Thiên Chúa ban ơn Cứu độ và biết mở rộng lòng đón nhận ơn Cứu độ ấy mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Thân thế và sự nghiệp Đức Maria được thâu gồm lại trong tổng hợp mà người Công giáo gọi là Mười Lăm Mầu Nhiệm được thể hiện qua việc lần hạt Mân Côi, là chuỗi hạt mà các anh chị thường thấy người Công giáo cầm trên tay hoặc đeo vào cổ, gồm có năm chục hạt, để vừa lần hạt, đọc lời kinh muôn thuở là kinh Kính Mừng, vừa nhắc lại, suy niệm thân thế sự nghiệp của Mẹ, khởi đầu là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Vui, tức là cái vui mừng của Mẹ được làm Mẹ Thiên Chúa, sinh ra Hài nhi ở trong máng cỏ, sống ba mươi năm trong khung cảnh gia đình ấm cúng của chàng phó mộc Giêsu; [Thời điểm năm 1988, chưa có thêm Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Sáng, do đó, diễn giả không nhắc đến] tiếp đến là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Thương, tức là khốn khó, diễn lại cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô mà hình ảnh cuối cùng là Đức Mẹ Sầu Bi đứng kề bên Thánh giá, nhìn người con yêu dấu của Mẹ trút hơi thở cuối cùng; kế đến nữa là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Mừng, tức là suy ngẫm biến cố Đức Giêsu sống lại, lên trời, cuộc giáng lâm của Thánh Linh khai sinh Giáo hội, rồi chính Đức Maria được "hồn xác lên trời” và được tôn vinh như là Nữ vương của trời đất. Như vậy, thân thế và sự nghiệp của Đức Maria được diễn tả qua việc lần hạt Mân Côi bằng tràng hạt trong tay các tín hữu Công giáo, từ những người bình dân như người già và em bé, kể cả ở những nơi xa xôi hẻo lánh, cho đến trong tay thi hào, văn hào Charles Péguy cũng như trong tay nhà bác học Teilhard de Chardin, hay là trong tay các nữ tu trọn đời phục vụ những người mắc chứng nan y, trong tay một vị Giáo hoàng là Đức Gioan XXIII vừa được thế giới trao tặng giải Nobel Hòa bình... Thân thế và sự nghiệp của Đức Maria trong chuỗi hạt Mân Côi được trình diễn như một sự đồng hành, như một sự kết hợp nhuần nhuyễn với thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô, và trong Đức Giêsu Kitô, thân thế và sự nghiệp của bất cứ con người nào, cũng được sinh ra trong một gia đình, cũng nếm những chua cay của cuộc đời, nhưng nếu biết sống xứng đáng với ơn Thiên triệu của mình, thì cũng được mời gọi đi đến cùng đích là muôn đời vinh hiển, chẳng những bất tử mà thể xác còn được sống lại vinh quang trong mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Đến đây tôi cũng muốn gửi gắm đôi lời với anh em bên các hệ Tin Lành, đành rằng trong sự tôn kính Đức Maria, Giáo hội Công giáo có đôi khi cũng tỏ ra hơi quá khích, bởi vì các tước hiệu như "Đức Mẹ Chúa trời, Nữ Vương trời đất" biến Mẹ thành như một vị nữ thần, ngang hàng và đôi khi có vẻ như tiếm vị của Thiên Chúa; nhưng sự thực thì, bên cạnh những tước hiệu huy hoàng ấy, còn có những tước hiệu nói rõ lên thân phận làm người của Mẹ, cụ thể như Ngài là "nữ tì của Thiên Chúa", là "Đức Me Sầu Bi". Cũng chính Mẹ, trong bài Magnificat, một mặt thì Mẹ nói rằng: "Muôn đời sẽ khen tôi có phúc/cho tôi là hiếm họa lạ lùng"; nhưng sở dĩ được như vậy bởi vì Mẹ nói rằng, “Vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi, đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn". Và những phẩm tước cao sang không phải chỉ để dành riêng cho Mẹ, nhưng còn mở rộng, đón mời bất cứ ai thuận tình với ơn Cứu độ của Thiên Chúa từ ái, nghĩa là có một sự thông dự và đồng hóa nào đó với Mẹ, và qua Mẹ, noi theo gương Mẹ thông dự và đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, là một con người đã được nâng cao lên một Ngôi VỊ Thiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Một nhà thần học chuyên về Đức Maria có nói bằng tiếng Latinh: “De Maria nunquam satis est! - Nói về Mẹ Maria không bao giờ đủ!" Một vài nét thô sơ của tôi trên đây, chẳng qua chỉ là gợi lên đế các anh chị tiếp cận với Đấng mà người Kitô hữu Việt Nam gọi là Đức Mẹ Maria, và như người Pháp gọi là, "La Très Sainte Vierge Marie, Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria", các anh chị có thể tìm hiểu sâu hơn qua những tác phẩm văn chương, điêu khắc, hội họa mà ở Việt Nam chúng ta, tiêu biểu là bức tranh "Mẹ bồng con" của họa sĩ Lê Văn Đệ, đã được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Vatican và qua bài thơ lừng danh của thi sĩ Hàn Mạc Tử, "Thánh nữ Đồng trinh Maria" hay "Ave Maria".

Có người nói rằng Đức Maria là biểu tượng của lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, một phần nào tương tự như Đức Phật Bà Quan Âm; nhưng Đức Phật Bà Quan Âm chẳng qua chỉ là một trong muôn vàn hóa thân của một vị bồ tát, tùy theo căn cơ của chúng sinh. Trái lại, Đức Maria là một con người thật, một phụ nữ như hàng triệu phụ nữ khác, sống cuộc đời tầm thường của một con người với những hệ lụy của nữ giới, sinh hạ Đấng Cứu thế cũng là một con người thật một trăm phần trăm, chứ không phải là hóa thân của một vị nữ thần hay bồ tát nào.

Vì vậy, đứng về một phương diện nào đó, bất cứ người phụ nữ nào, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù là ngôi mẫu nghi thiên hạ hay là một gái giang hồ, một người mẹ, một người vợ, một nữ tu, một nữ anh hùng liệt sĩ, hoặc nữa là một người hết sức bình thường, thảy đều tìm thấy nơi Đức Maria cái dáng dấp của chính mình, và có thể có một sự đồng hóa, thông dự hai chiều nào đó giữa chính đời sống của Đức Maria, với đời sống của bản thân hay của bất cứ ai, bất cứ con người nào cũng có sự thông dự với chính Đức Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người; được sinh hạ bởi một người nữ đã hứa hôn với một người nam là Giuse. Người nữ ấy chính là Đức Maria, một thôn nữ ở làng quê Nazareth hẻo lánh, trên đất Do Thái, cách đây hai nghìn năm; và ngày nay Mẹ đã "hồn xác lên trời”, thông dự vào sự vinh hiển của chính Thiên Chúa, là cứu cánh của bất cứ thụ tạo nào.

Ngày xưa, trong Vườn Địa đàng có một người nam và một người nữ, là Adam và Eva, thì hiện nay trên Thiên đàng cũng đang có một người nam và một người nữ đã đạt được cứu cánh của mình, đó là Giêsu Nazareth và Maria Nazareth. Đây cũng có thể được xem như là mẫu mực để ta noi theo, và hơn nữa để ta đồng hóa với một lòng tin tưởng vững bền ta cũng sẽ đạt được như hai Đấng ấy, trong một sự thông dự hai chiều. Trong một số gia đình Công giáo các anh chị có thể thấy hai bức ảnh có trái tim: một vẽ trái tim Chúa Giêsu Kitô đã bị lưỡi giáo đâm thấu, chảy máu ra để chứng tỏ tình yêu đối với Đức Chúa Cha, đối với mỗi một linh hồn, đối với cả và nhân loại, đối với toàn thể vũ trụ; và một vẽ Đức Maria đang chỉ tay vào trái tim mình, dù không bị một lưỡi giáo nào đâm thấu nhưng, khi đứng bên chân Thánh giá, ngước mắt lên nhìn chính trái tim của Con mình bị đâm thủng, trái tim Mẹ cũng tan nát khác nào bị một lưỡi gươm xé nát, đúng như lời vị bô lão Siméon đã tiên báo trong lúc ẵm trên tay mình Hài nhi Giêsu được tiến dâng vào Đền Thánh, theo nghi thức phụng vụ của Do Thái giáo.

Cuối cùng, hai trái tim đó thâu gồm nội dung đức tin cùa Kitô giáo. Thể hiện đỉnh cao của thần hiệp Kitô giáo, tức là kính mến Thiên Chúa và thương yêu nhân loại tới mức đổ hết máu mình ra cho đến giọt cuối cùng vì đối tượng của tình yêu.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Có thể nói rằng, nơi Đức Giêsu Kitô, trời cao hạ xuống đất thấp, mà nơi Đức Maria là nhân loại từ dưới đáy vực sâu vươn lên đến đỉnh cao nhất, và trong cung lòng của Mẹ là nơi trời đất gặp gỡ nhau, kết tụ lại thành một con người là Giêsu Nazareth. Mẹ là lý tưởng về một sự cộng tác mật thiết, một sự thuận tình hoàn toàn tự do của nhân loại trước lời mời gọi của Thiên Chúa, để chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được bắt đầu thực hiện, hay nói cách khác, được khai mạc. Hình ảnh Mẹ đứng bên chân Thánh giá cũng là tiêu biểu cho nhân loại biết dâng sự đau khổ của mình, kết hợp làm một với sự đau khổ của Đức Giêsu Kitô để biến đau khổ thành nguồn mạch cứu độ và đem lại phúc lạc muôn đời.

Sau hết, với tín điều "hồn xác lên trời”, vì Đức Maria là một con người, một thụ tạo trăm phần trăm, chứ không như Đức Giêsu Kitô là Ngôi Thiên Chúa, thì Đức Maria là hoa quả đầu mùa của ơn cứu độ, là một thụ tạo hoàn toàn đã được đi vào vinh hiển cả phần linh hồn, cả phần thể xác, như là một bảo chứng để cho mỗi một người trong toàn thể nhân loại, và kéo theo cả vũ trụ, vững tin vào cứu cánh của mình là đi vào vinh hiển của Thiên Chúa Cha, miễn là biết mở rộng tâm hồn ra để đi vào mà thôi.

Đức Maria còn là hình ảnh lý tưởng của thụ tạo khi đã đạt được chính cái cứu cánh của mình, theo đúng như ý định sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa tình yêu. Do đó, lòng sùng kính của các Kitô hữu, và nhất là của tín hữu Công giáo, đối với Mẹ Maria, đã đem lại những ảnh hưởng, những hệ quả về tất cả mọi bình diện tư tưởng, nghệ thuật, tình cảm và có thể nói cả trong cơ chế xã hội, quả là không thể nào kể xiết.

Tôi chỉ nêu lên hai vấn đề: Thứ nhất là vấn đề người nữ, nếu chúng ta mở những trang đầu của Kinh thánh, thì thấy người nữ có một dạng là "lưỡng giá", tiếng Pháp là "ambivalente". Khi Thiên Chúa tạo dựng nên người nữ, người nam Adam đã đón nhận với một niềm hân hoan vui mừng khôn tả mà reo lên: “Đây chính ìà xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi’', và người nữ là cộng tác viên của người nam để thực hiện chính cuộc đời của mình; nhưng một mặt khác thì, qua câu chuyện Adam, vì lời rủ rê của người nữ mà ăn phải "trái cấm”, do đó, có một quan niệm cho rằng người nữ như là cơn cám dỗ muôn đời có thể làm cho người nam suy sụp; nhưng mà đúng là vậy thật, tiểu sử của biết bao cá nhân trong lịch sử của nhân loại cũng cho chúng ta thấy ảnh hưởng, đôi khi khủng khiếp, của những người phụ nữ như Bao Tự, Đát Kỷ, Dương Quý Phi, v.v... Nhưng đồng thời người nữ cũng là người sinh ra những bậc anh hùng hào kiệt: Mạnh mẫu, Ỷ Lan Thái phi, thân mẫu của vua Louis IX, và chính trong chúng ta ai cũng có kinh nghiệm nhờ một người mẹ, nhờ một người chị, nhờ một người vợ, nhờ một người em gái mà đôi khi, chẳng những mình được an ủi khỏi những đau khổ, mà còn được cứu vớt khỏi những bước sa lầy; và cái quan niệm cho rằng người nữ như là một lớp người hạ cấp hơn người nam vẫn còn thông dụng trong nhiều xã hội, và có thể nói là vẫn còn tác động trong tiềm thức của ngay cả những người phẩn đấu cho nam nữ bình quyền, đó là một hiện thực.

Như vậy, cái vấn đề "lưỡng giá" nhắc đến ở trên dường như đã được giải quyết trong chính Đức Maria bởi vì, một mặt, đối với Đức Giêsu, Mẹ chỉ đóng vai trò thứ yếu, nhưng dù sao đi nữa, Đức Giêsu có một khía cạnh là Thiên Chúa, còn nói rằng các thụ tạo vốn chỉ là người, thì Đức Maria chính là thụ tạo tuyệt vời nhất. Do đó, mặc dầu trong những lời giáo huấn của Đức Kitô hay là của các vị Tông đồ, không hề đề cập đến vấn đề nam nữ bình quyền, mà trái lại, hình như vẫn theo cái phong tục các dân tộc thuộc những nền văn hóa cách đây hai nghìn năm là đặt người phụ nữ vào vị trí thứ yếu; nhưng dần dà ảnh hưởng của chính Đức Maria đã âm thầm lặng lẽ tác động khiến cho người phụ nữ được nâng lên ngang hàng với người nam. Nhiều khi tôi tự hỏi, nếu không có Đức Maria, thì liệu rằng hiện nay chúng ta có thể có được một quan niệm nam nữ bình quyền hay không? Đấy chỉ là câu tôi tự hỏi bản thân mình mà thôi, chứ tôi không dám khẳng định.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Chính do đó mà, trong tiểu sử mỗi một Kitô hữu, cũng như trong lịch sử của Giáo hội Kitô giáo, nhất là Giáo hội Công giáo, Đức Maria vẫn giữ vai trò là Mẹ của nhiệm thể Giêsu Kitô, mà đã là Mẹ thì tất nhiên là cưu mang, chăm sóc, hướng dẫn, dạy dỗ, nuôi nấng, an ủi, vỗ về, phù trợ cho từng người con riêng biệt cũng như người con duy nhất là Giáo hội. Cũng tương tự như Đức Giêsu Kitô, một mặt thì linh hồn và thân xác sống trong sự vinh hiển vĩnh cửu, nhưng một mặt vẫn đồng hành với Giáo hội, với nhân loại, với cả vũ trụ qua những thăng trầm của lịch sử, cũng như qua những chìm nổi của từng cá nhân; đôi khi được tin Mẹ hiện ra với một số linh hồn được lựa chọn để an ủi, khuyến khích, dạy bảo, khi khác thì ra những mệnh lệnh hướng dẫn Giáo hội và cả nhân loại thoát khỏi những đe dọa của tội lỗi, của chiến tranh, của hiểm họa hủy diệt, của hiểm họa hoang tàn. Vì vậy, phần lớn các Thánh đường đều mang danh hiệu của Mẹ như: Đức Mẹ La Vang, Đức Bà Sài Gòn, Đức Bà Paris, Đức Bà Chartres, v.v... Tương quan của Đức Maria đối với mỗi tín hữu đôi khi như một vị nữ hoàng, đôi khi như một bà ngoại, đôi khi như một người mẹ, đôi khi như một người chị em, đôi khi như một người bạn đồng hành; đôi khi nghiêm khắc như Mạnh mẫu, nhưng đôi khi lại dịu hiền như một nữ y tá băng bó, chữa lành vết thương thể xác cũng như tâm hồn; đôi khi như một vị nữ tướng cầm quân trong những cuộc giao tranh giữa mỗi một tâm hồn với Ác thần, hoặc là giữ toàn thể Giáo hội trước những đe dọa, uy hiếp hòng nhận chìm Giáo hội, phá hủy Giáo hội; và đôi khi hướng dẫn nhân loại trong cuộc chiến đấu chống lại sự dữ, sự đau khổ. Trong sách Khải huyền, cuốn sách cuối cùng của bộ Kinh thánh, có vẽ nên một người nữ sáng láng, mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao [Theo các nhà Chú giải học (hermeneutics): - "Áo mặt trời": được bao bọc bởi Thiên Chúa (Thiên Chúa là ánh sáng). - "Chân đạp mặt trăng": "mặt trăng", trong văn hóa Tây phương là biểu tượng cho người nữ (Tiếng Latinh phân biệt mặt trăng "Luna"giống cái; mặt trời "Sol" giống đực. Tiếng Pháp cũng có phân biệt tương tự: mặt trăng "la Lune", giống cái; mặt trời "le Soleil", giống đực). Như vậy "Chân đạp mặt trăng" có ý nghĩa của một sự vượt qua, sự đứng bên trên thân phận người nữ bình thường (vốn mắc tội Tổ Tông)... - "Đầu đội triều thiên 12 sao": Đức Mẹ được tôn vinh bởi Giáo hội ("đội triều thiên": sự tôn vinh; "số 12" tượng trưng cho Giáo hội)], tiến lên uy hùng như một đạo binh, đó là ám chỉ về Đức Maria, Nữ Vương của trời đất; nhưng đôi khi Đức Maria lại được hình dung như là khuôn mẫu một người mẹ xót xa, đau đớn khóc lóc, ẵm lấy xác của con mình vừa được hạ xuống từ thập giá, và chính Mẹ cũng tự xưng mình chẳng qua chỉ là một nữ tì của Thiên Chúa.

Mẹ, như một thôn nữ, như một nữ đồng trinh đầy hương đầy sắc, cho nên dung mạo của Mẹ được các thi hào, các nghệ sĩ vẽ lên bằng những nét vô cùng phong phú, vô cùng đa dạng mà chúng ta được chiêm ngưỡng trong không biết bao nhiêu tác phẩm hội họa, từ bức họa của Leonardo da Vinci đầy bí ẩn, cho đến bức họa đầy tình mẫu tử của họa sĩ Lê Vãn Đệ; từ những bức họa đầy rạng rỡ huy hoàng mô tả vị Nữ thần Hồn Xác Lên Trời của danh họa Murillo [Bartolomé Esteban Murillo, danh họa Tây Ban Nha hậu bán thế kỷ XVII. Ông còn có bộ tranh sơn dầu trên vải; 236cm X 259cm, mô tả Đứa con hoang đàng - (khác với bức tranh nổi tiếng của Rembrandt) - từ lúc bỏ nhà ra đi rồi ãn chơi phung phí cho đến khi trở về. Ngoài bức họa nổi tiếng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, hiểu theo nghĩa được công chúng đón nhận rộng rãi nhất - có lẽ do sự dung dị của tác phẩm và sự dịu dàng, thanh thoát nơi bản thân hình ảnh Đức Mẹ Maria... Murillo cũng là họa sĩ vẽ rất nhiều tranh về chủ đề "Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội". (Nguồn: https://tgpsaigon.net/bai-viet/duc-me-honxac-len-troi-trong- hoi-hoa-38942)], cho đến bức vẽ một thôn nữ liễu yếu, đào tơ cúi đầu trước lời Truyền tin của sứ thần Gabriel, của danh họa Fra Angelico [Fra Angelico, OP là một tu sĩ người Dominica và là họa sĩ người Ý thời kỳ đầu Phục hưng, được Giorgio Vasari mô tả trong cuốn Đời sống nghệ sĩ của mình là có "tài năng hoàn hảo và hiếm có", ông nổi tiếng chù yếu nhờ loạt bức bích họa mà ông thực hiện cho tu viện của riêng mình, San Marco, ở Florence, sau đó làm việc ở Rome và các thành phố khác. Tất cả các tác phẩm được biết đến của ông đều có chủ đề tôn giáo. Bức tranh tuyệt tác "Truyền tin" của họa sĩ Fra Angelico, được vẽ vào khoảng năm 1437, thể loại tranh tường, 230 X 297 cm,Tu viện San Marco - Florence (Ý) là một trong các tuyệt tác của thành phố Florence. Viên ngọc này của Dòng Đa Minh là tác phẩm suy ngẫm luôn được trình bày ở nơi do chính nghệ sĩ chọn. Mỗi chi tiết bức tranh là mỗi nét nhắc người xem hiểu thêm về Mẹ Maria. "Trong phông nền đơn giản tuyệt đối, không một nét nào làm cho người xem lo ra để không chú tâm đến ánh mắt và tâm hồn đang suy ngẫm vế mầu nhiệm thánh". (Nguồn: https://giaoxutanviet.com/ tim-hieu-tuyettac-truyen-tin-cua-danh-hoa-fra-angelico/)] ... Và thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng đã dâng lên Đức Bà một câu thơ như một thần tử dâng lên một vị nữ hoàng: "Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!/ Run như run thần tử thấy long nhan/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng/ Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.” (Trong bài Thánh nữ Đồng trinh Maria).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria

Đến đây tôi bước sang một phần trình bày với các anh chị về Đức Maria. Hễ đã nói đến Kitô giáo và nhất là Công giáo, thì không thể không nói về Đức Mẹ Maria. Một tín điều căn bản của Kitô giáo là mầu nhiệm Nhập Thể, Ngôi Hai xuống thế làm người. Ngài vừa là Thiên Chúa thật sinh bởi Đức Chúa Cha, vừa là con người thật, sinh bởi bà Maria, một phụ nữ Do Thái, cách đây hai ngàn năm, sống một cuộc đời vào hàng những kẻ khó nghèo, "anawim", tại ngôi làng hẻo lánh Nazareth tầm thường đến nỗi, khi Đức Giêsu ra hoạt động công khai, có người đã nói rằng: "Nazareth nào có chi hay?" (Ga 1,46).

Đức Maria là một phụ nữ như trăm nghìn phụ nữ khác, không làm một cái gì lừng lẫy, chỉ đóng vai người vợ, người mẹ âm thầm lặng lẽ. Trong bốn cuốn Tin mừng, thuật lại thân thế và sự nghiệp Đức Giêsu Kitô, có bóng dáng Đức Maria, nhưng là một chiếc bóng gần như thấp thoáng, chỉ có đôi lần xuất hiện, và lần xuất hiện cuối cùng của Mẹ là khi cùng với các Tông đồ cầu nguyện, chuẩn bị tâm hồn đón nhận Chúa Thánh Thần ngự xuống để khai sinh Giáo hội, cũng như Mẹ đã đón nhận sự bao phủ của Thánh Linh để Ngôi Hai xuống thế làm người, âm thầm lặng lẽ không ai biết không ai hay.

Nếu Tin mừng theo thánh Gioan nhấn mạnh việc nhờ sự can thiệp của Mẹ mà Đức Chúa Giêsu tỏ vinh quang Thiên Chúa qua phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana, thì đấy cũng chỉ là một gợi ý khiêm tốn của một bà mẹ, trong một tiệc cưới bình dân có lẽ không được giàu có lắm, nhận thấy rượu đã hết mà tiệc thì chưa tàn. Rồi trong suốt cuộc đời hoạt động của Đức Giêsu, đôi khi ta có cảm tưởng như Đức Maria không hiểu rõ sứ mạng của Con Mẹ và dường như Mẹ có ý băn khoăn lo lắng, như bất cứ người mẹ nào, khi thấy con xông xáo giữa trường đời, bị công kích tứ phía và có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Cuối cùng, Đức Maria chỉ là một người mẹ của một tên tử tội, âm thầm lặng lẽ đứng bên chân cây khổ giá, xót xa đến cùng cực nhưng không một lời rên rỉ, không một tiếng kêu van, nhìn đứa con yêu dấu của mình trút hơi thở cuối cùng sau khi thống thiết kêu lên với chính Thiên Chúa: "Lạy Chúa, sao Chúa nỡ bỏ con!" Thế rồi, sau sự hiện diện của Mẹ trong giờ Thánh Linh ngự xuống để khai sinh Giáo hội, hầu như các Tin mừng không còn nhắc đến tên Mẹ, và từ đó không ai biết rõ Mẹ sống như thế nào... Rồi khi các môn đệ của Đức Giêsu đã tản mác khắp bốn phương trời, có truyền thống cho rằng Mẹ sống với Tông đồ Gioan, nhưng điều này cũng không chắc, bởi vì thánh Gioan hình như có cuộc đời chỉ như một tên tù chung thân, ở một hòn đảo hoang vắng trong vùng Địa Trung Hải...

Thế nhưng, theo sách Tin mừng Luca, khi Đức Maria bụng mang dạ chửa, đã đi cả một đoạn đường dài miền núi hiểm trở để đến giúp đỡ người chị họ của mình sắp sinh con. Lúc vừa được chào mừng, chính Đức Maria đã cất lời ngợi khen Thiên Chúa, và trong sự khiêm tốn, Mẹ vẫn nói rằng: "Muôn đời sẽ khen tôi là người có phúc". Mà quả vậy, các Giáo hội Kitô giáo, nhất là Giáo hội Công giáo, đã tôn Đức Maria lên một địa vị tuyệt vời, đỉnh cao nhất của người nữ trong vũ trụ này, tôn xưng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa: "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời"; và tìm thấy nơi Mẹ những nét độc đáo, đặc biệt mà, trước hết, Mẹ là Đấng Vô Nhiễm, tức là trong loài người, Mẹ thoát khỏi vết hoen ố của Tội Tổ Tông, và Mẹ được trinh thai. Trinh thai ở đây là thụ thai mà không có sinh hoạt vợ chồng với một người nam; và sau khi sinh con, thân xác băng tuyết của Mẹ vẫn tinh tuyền trinh nguyên. Mẹ còn được tôn vinh như là đấng cộng tác một cách đặc biệt với Đấng Cứu thế; và rồi cuối cùng, sau khi trút hơi thở cuối cùng, Mẹ còn được một đặc sủng, đó là chính thân xác của Mẹ, không bị hoen ố bởi bất cứ tội lỗi nào, đã được cùng với linh hồn đi vào vinh hiển, tức là được ơn "hồn xác lên trời”, cùng thông dự vinh hiển với Chúa Giêsu Kitô phục sinh, Con của Mẹ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Người tĩnh tọa và khách lữ hành (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

3. Người tĩnh tọa và khách lữ hành (tiếp theo)

Vị khách lữ hành đó là Giêsu Nazareth vẫn đang tiếp tục đồng hành với mọi lữ khách ở trần gian trên con đường dài tiến về Nước Trời, y như cách đây hai nghìn năm, cùng sánh bước với hai môn đệ trên đường Emmaus dưới bóng chiều đang về và đêm sắp xuống, cùng vào quán trọ, cùng ngồi chung bàn, cùng bẻ bánh; bánh là thức ăn hằng ngày của bất cứ ai còn ăn "cơm hẩm" ở trần gian - "cơm hẩm" ở đây được dịch từ một chữ tiếng Pháp, "pain noire [bánh mì đen]", nghĩa là thứ thức ăn thuộc về giai cấp thấp kém, nghèo hèn trong xã hội. Trong lúc đang phải chịu những thử thách gian nan đến nỗi gần như kiệt sức, chính Đức Giêsu cũng vẫn kêu gọi: "Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng" (Mt 11,28-30). Ách êm ái dịu dàng nhưng vẫn nặng, ách nặng nhưng vẫn dịu dàng êm ái.

Tóm lại, thần hiệp tự nhiên là tìm cho chính bản thân mình một trạng thái an nhiên nào đó, theo nhưng xu hướng của mình, tự chính mình, với một tri thức nào đó, áp dụng những kỹ thuật tham thiền nhập định nào đó, và hầu như nhất định sẽ đạt được. Trong khi đó, thần hiệp mạc khải, nhất là thần hiệp Kitô giáo, là một dạng thông dự vào khía cạnh nào đó của chính Đức Giêsu Kitô và thông dự với anh em năm châu bốn bể dưới dạng mà Đức Giêsu Kitô đã chia phần cho mỗi người, tùy theo ơn kêu gọi của mỗi người như ơn kêu gọi khởi đầu là do chính sự lựa chọn của Đức Giêsu Kitô, mà nói theo thuật ngữ chuyên môn, là tùy Ơn Thiên triệu của từng người riêng biệt.

Tương quan của tâm hồn thần hiệp với Đức Chúa Giêsu có dạng như là thần tử đối với quân vương, hoặc có dạng như môn sinh đối với thầy, có dạng như bạn hữu, có dạng như anh em, có dạng như cha con và nhất là, đôi khi, có dạng như vợ chồng mà các nhà thần hiệp thường gọi là hôn phối thiêng liêng. Mà đã là vợ chồng thì tục ngữ ta có câu: "Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng". Do đó, người thần hiệp sẽ tùy theo sự phân phối của Đức Giêsu Kitô mà được cộng tác trong sự nghiệp của Ngài: có người thì ngôi vua như vua Louis IX nước Pháp: có người suốt đời lang thang làm kẻ hành khất như Benoît ]oseph Labre; có người là một nhà bác học lừng danh như linh mục Teilhard de Chardin; có người thì làm phu khuân vác tại các bến tàu; có người là anh hùng cứu quốc như Jeanne d’Arc; có người chỉ là một em bé chăn cừu yểu mệnh khi mới mười tuổi như Giaxinta ở Fatima; có người hoạt động trong ngành văn nghệ, được giải Nobel như François Mauriac; có người chấp nhận cuộc đời ba, bốn mươi năm chịu liệt giường để thông dự vào sự đau khổ của Đức Chúa Giêsu Kitô trên khổ giá như Marthe Robin; có người chỉ âm thầm lặng lẽ sống một cuộc đời ẩn dật kiểu như Tam Hợp đạo cô mây ngàn hạc nội; có người thì xông xáo tại nghị trường như 0'Connell ở Ái Nhĩ Lan... Thật là vô cùng phong phú muôn hình vạn trạng. Do đó, có người đã ví tâm hồn thần hiệp chẳng qua chỉ như là tia sáng phát tích từ một mặt trời duy nhất là Đức Giêsu Kitô. Mỗi người thực hiện một nét nào đó trong cuộc sống vô cùng vô tận của Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Và, tắt một lời, dù dưới dạng nào, dù trong hoàn cảnh nào, thì mỗi một tâm hồn thần hiệp chẳng qua là một tâm hồn đã thực hiện được ý tưởng mà thánh Phaolô đã nói: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (GI 2,20); và cái sự đồng hóa, hay nói đúng hơn, sự tháp nhập vào Đức Giêsu Kitô như vậy, không chỉ dành riêng cho những người đã đạt đỉnh cao thần hiệp, nhưng đã khởi đầu cho bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, nói đúng hơn là Bí tích Thánh Hiến, được trở nên con Chúa Cha và con Đức Mẹ Maria. Mỗi một tín hữu Kitô giáo là một Kitô khác, "un autre Christ", tức là một người con của Đức Maria.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Người tĩnh tọa và khách lữ hành

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

3. Người tĩnh tọa và khách lữ hành

Tôi xin mạn phép các anh chị em bên Phật giáo mượn một hình ảnh để so sánh. Như tôi nói ở trên kia nhiều lần, vấn đề ở đây không phải là so sánh hơn thua, nhưng chủ yếu để phân biệt sự khác nhau. Hình ảnh Đức Thích Ca điềm nhiên ngồi trên tòa sen, tuy là cũng sau một cuộc giao tranh với Ác thần dưới gốc bồ đề, khác hẳn với hình ảnh Đức Chúa Giêsu sống lại bên cửa mồ, sau những giờ vật vã từ Getsêmani cho đến khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá.

Có thể nói thần hiệp tự nhiên cuối cùng có một dạng thiên về an tịnh, tĩnh mịch, được mô tả trong chữ "ataraxie" của Hy Lạp, hay là thiền định của Phật giáo chẳng hạn. Trong khi đó, thần hiệp của Kitô giáo, như tôi đã nói trên kia, vẫn có một dạng lữ thứ, đợi chờ và lên đường, mà trong cuộc xuất hành đó như được mô tả qua bóng dáng dân Do Thái vượt Biển Đỏ, dưới sự truy kích của quân Ai Cập, và ngay khi vàọ sa mạc đã gặp không biết bao nhiêu là khó khăn cản trở, và rồi cuối cùng, khi đã đi vào Đất Hứa, còn phải chiến đấu qua hàng thế kỷ với các bộ lạc còn ở lại trên Đất Hứa, mới thiết lập được vương quốc của mình. Do đó, thần hiệp Kitô giáo có phần nào sôi động hơn, có một phần nào bi đát hơn và cuối cùng vẫn mang tính cách lên đường xuất hành, chứ chưa phải là đã đến nơi, đến đích. Tuy rằng Đức Giêsu có hứa hẹn ban sự an vui cho tâm hồn các môn đệ của Ngài, nhưng sự an vui này thường thường là chôn vùi sâu kín dưới đáy sâu, hoặc là trên đỉnh cao của tâm hồn, chứ ít khi mà tâm hồn được hưởng nếm như một vị ngọt, và có thể nói, càng lên cao càng ít khi được, mà nếu tâm hồn không cảnh giác, chỉ hướng về sự hưởng thụ và bám lấy nó, thì đã như rời khỏi đời sống thần hiệp đích thực; cuối cùng, chừng nào tâm hồn còn ở trần gian này, bấy giờ vẫn là trên con đường lữ thứ trần gian.

Tôi không dùng hình ảnh cuộc lưu đày, mà dùng hình ảnh cuộc xuất hành về Đất Hứa, hoặc dùng hình ảnh cuộc hành hương tiến về Đền Thánh Giêrusalem muôn thuở như đã mô tả trong sách Khải Huyền. Đền Thánh Giêrusalem ấy, chỉ khi đến ngày Cánh chung mới từ Trời xuống, còn ở trần gian này, chẳng qua thỉnh thoảng, vì muốn nâng đỡ sự hèn yếu của con người, Thiên Chúa cho bồi dưỡng bằng những an ủi thiêng liêng nào đó, như hình ảnh man-na là thức ăn được Thiên Chúa ban xuống cho đoàn lữ hành trong sa mạc. Tuy nhiên, đời sống thần hiệp càng cao, nghĩa là linh hồn càng vững mạnh, thì sự bồi dưỡng ấy càng ít cần thiết và có thể nhiều khi những người đã trưởng thành, đã vững mạnh phải kiêng khem, phải nhịn ăn để dành cho những tâm hồn yếu đuối hơn mình trong một sự hiệp thông giữa các chi thể của thân thể mầu nhiệm Đức Kitô mà những phần tráng kiện luôn nâng đỡ những phần còn non yếu. Đương nhiên cái tỉ lệ giữa tính cách an tịnh và tính cách lữ hành giao tranh đó cũng còn tùy vào tính chất của mỗi một tâm hồn, tùy theo từng nền văn hóa và có thể tùy theo bối cảnh xã hội đang trong một thời thanh bình hay đang phải trải qua ly loạn, trong một thời Giáo hội vinh quang thịnh trị hay đang lúc Giáo hội gặp phải nhiều gian nan thử thách.

Và cuối cùng, để tóm tắt sự khác biệt ấy, tôi xin dùng hình ảnh, một bên là một người ngồi tĩnh tọa, còn một bên là một khách lữ hành. Người ngồi tĩnh tọa chỉ có một mình, chẳng những không có mục đích nhằm trực diện với "cái tôi absolu" trong trong một trao đổi yêu thương bao trùm cả nhân loại và vũ trụ, mà chỉ có mục đích là chính cái ngã vị của mình cũng hòa tan trong một cái tự tại hoằng đại vô ngã. Trong khi đó, người lữ hành thì cùng đi với những lữ khách khác, cảm nghiệm được có người cùng đi với mình, cùng đi với mọi người, hay nói đúng hơn, cùng đi chính nơi bản thân mình, chính nơi bản thân mọi người.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

Đây là chỗ phân biệt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo. Do Thái giáo và Hồi giáo thì chỉ có sự đối diện giữa ngã vị của mỗi một người và ngã vị của Thiên Chúa độc thần. Còn trong Kitô giáo, ngã vị của mỗi một tâm hồn tháp nhập vào ngã vị của Đức Giêsu Nazareth là ngã vị của một Ngôi Thiên Chúa, để đi vào tương quan liên Tam ngã vị ngay trong chính Thiên Chúa. Trong sự tiến về với Thiên Chúa như thế, thì tinh thần của Do Thái giáo, tinh thần của Hồi giáo khác với tinh thần của Kitô giáo. Tinh thần Kitô giáo vốn không có cái xu hướng khinh chê vật chất, không có xu hướng thoát khỏi vũ trụ như một ngục tù, không có xu hướng tị thế, mà trái lại, thường thường sau khi được kết hiệp với Thiên Chúa, thì hình như đón nhận một sứ mạng là trở về với trần gian để tiếp tục chính cái thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu là hiến thân cho trần gian, ẵm nhận lấy trần gian để lặn sâu vào tận đáy đau khổ và tội lỗi như hình ảnh "Chiên Thiên Chúa gánh tội trần gian", trục xuất hết đau khổ và tội lỗi để đưa nhân loại và vũ trụ trở về trong cung lòng cúa Thiên Chúa Cha chí ái...

Thường thường đời sống thần hiệp như vậy có những nét tương tự bất cứ cuộc tình duyên nào, có thăng trầm, có lạnh nhạt, có sa ngã, có phản trắc, có ăn năn hối cải, mãi cho mãi cho đến khi có thể nói là trút hơi thở cuối cùng mới thật là đi vào cuộc hôn phối. Đó dường như cũng là điểm khác biệt giữa thần hiệp Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo với các thần hiệp tự nhiên. Tức là, trong các thần hiệp tự nhiên, đỉnh cao nhất có thể tìm đạt được, còn bên Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, hình như trong cuộc sống lữ thứ này, chỉ mới là một cuộc đính hôn nào đó của cuộc hôn phối thực thụ, (vốn) chỉ thực hiện khi con người rời khỏi cuộc sống trần gian này, để đi vào vĩnh cửu...

Vì vậy, có thể nói những kinh nghiệm tâm lý của các kinh nghiệm thần hiệp tự nhiên thường mô tả như là một cái gì "đạt đạo"; còn những kinh nghiệm đời sống thần hiệp Kitô giáo thường được mô tả như sống trong một sự chờ đợi, trong một sự trông cậy mà chủ yếu là tình thương yêu của linh hồn hiến dâng lên Thiên Chúa rồi ban phát cho anh em. Chỉ có ngày thoát khỏi trần gian này, bấy giờ mới có thể đạt tới sự phối hợp không có gì làm thay đổi, không có gì làm suy giảm và có thế nói càng ngày càng tiến sâu mãi vào cung lòng của Thiên Chúa Cha vốn vô cùng, vô tận, vô biên. Cái đó được diễn tả bằng cụm từ "hạnh phúc muôn đời", là chính sự mặt đối mặt, tiếng Pháp là "face à face" với chính Thiên Chúa, là ta biết Thiên Chúa như chính Thiên Chúa biết ta, cũng như chính Thiên Chúa tự biết Ngài; ta yêu mến Thiên Chúa như chính Thiên Chúa yêu ta, hay nói tóm lại, chính là tình yêu của Thiên Chúa tác động, yêu mến nhau ở trong ta, yêu mến ta và ta yêu mến Ba Ngôi. Nhưng điều đó chỉ hoàn toàn viên mãn khi bước vào vĩnh cửu, và chừng nào còn ở trần gian này, thì vẫn có một dạng là một "cuộc xuất hành", tức là rời khỏi chính bản thân mình để hướng về Thiên Chúa, qua Biển Đỏ, tức là qua sự chết nào đó, vượt qua cái sa mạc của trần gian đầy thử thách, đầy gian nguy, đầy cạm bẫy và có thể nói, trong một bóng tối lờ mờ nào đó, như hình ảnh mà các nhà thần hiệp thường sử dụng, là một kẻ canh thức giữa đêm khuya chờ đợi bình minh tỏa rạng.

Một điểm khác nữa là các thần hiệp Kitô giáo, tuy là kinh nghiệm của mỗi một linh hồn trong cá vị tính, ngã vị tính độc nhất vô nhị của mình, nhưng có một chức năng cộng đoàn. Sự chiêm niệm đó hầu như một phần nào là do Thiên Chúa tuyển chọn một con người có tính cách đại diện, thay thế cho một số anh em, vừa như nêu một gương mẫu, vừa như một mũi tên, vừa như một ngôi sao có một chức năng cộng đoàn tiếp tục chính thân thế sự nghiệp của chính Đức Giêsu Kitô mà chúng ta thấy cuộc đời của Ngài là một cuộc đời khá bầm dập, đầy gian nan thử thách và kết thúc bằng một cái chết vô cùng bi thảm.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

Trái lại, trong kinh nghiệm của Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo tức là những nhóm phát tích từ nguồn gốc Tổ phụ Abraham, thì đời sống thần hiệp, trước hết là một ân sủng của chính Thiên Chúa hữu ngã vị ban cho. Ban cho trong sự giáng lâm của Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, hoặc là trong sự lựa chọn của một dân riêng hay của một vài cá nhân riêng. Những tri thức, những kỹ thuật như tham thiền nhập định chỉ là tạo nên những điều kiện tự nhiên thể lý, tâm lý thuận lợi để đón nhận ân sủng từ trên ban xuống ấy khi mà chính Ngã vị Tuyệt Đối muốn ban cho; tuy nhiên có thể Ngài không ban cho, mà cũng có thể Ngài ban cho, nhưng ban cho dưới dạng hữu thể, chứ ý thức đương sự không biết, không hay, mà chỉ người ngoài nhìn vào thì có thể đoán rằng người đó đã được sống đời thần hiệp. Còn những hiện tượng tâm lý do đương sự cảm nhận được, hay những hiện tượng về thể lý hoặc từ thiên nhiên, nếu có đến nữa chẳng qua chỉ là thứ yếu và có thể nói, tự nó chẳng tốt lành gì và đôi khi còn là dấu chỉ về sự yếu nhược của con người chưa tránh nổi, và tệ hơn nữa, đôi khi biến thành cản trở nếu con người bám víu lấy những hiện tượng đó như là thành quả mà mình muốn thụ hưởng một cách ích kỷ và có phần dục vọng tham lam, dù là dục vọng thiêng liêng.

Khủng khiếp hơn nữa là nhiều khi những hiện tượng tâm lý, thể lý và tự nhiên ấy không phải phát tích từ Thiên Chúa, mà là do sự cám dỗ phá hoại của những thiên thần đã phản loạn mà thủ lãnh, trong đức tin của ba tôn giáo ấy, chính là Ác thần, là Satan. Vì vậy, một số đông những nhà thần hiệp bên Kitô giáo thường khuyên can các đệ tử hãy đề phòng đối với những hiện tượng tâm lý, thể lý và tự nhiên như vậy, và cần phải có sự hướng dẫn chỉ bảo, kiểm soát của một vị linh hướng kinh nghiệm; và đôi khi có một số người trong Giáo hội có thẩm quyền, có khả năng và có trình độ mà nhiều khi cũng phải trải qua một thời gian thử thách, kiểm nghiệm rất lâu dài.

Một điểm khác nữa, đó là thay vì một sự hướng thượng để thoát khỏi những cấp thấp của hữu thể như rời bỏ vật chất, rời bỏ vũ trụ, rời bỏ thân xác để đi vào một thế giới gần như là thần linh, thì cái hướng của thần hiệp Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo là do một sự phân chia có thể nói là hàng dọc, bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần, nhưng nghiêng về phía duy trì lấy mình làm trung tâm vũ trụ, thì như vậy là xấu; nhưng hướng đến tha thể mà hai tha thể chính là ngã vị của Thiên Chúa và ngã vị của tha nhân, của anh em đồng loại, và cái nỗ lực kết hợp với Thiên Chúa không phải là nỗ lực thoát khỏi những ràng buộc của thân xác, của vật chất, của xã hội, nhưng chính là thoát khỏi ràng buộc của cái hướng duy kỷ, vị kỷ của mình, để thật lòng đi ra khỏi mình, hoàn toàn hiến thân cho ngã vị của Thiên Chúa, cho ngã vị của tha nhân, thì như vậy là chính đáng. Ở đây, mục đích của thần hiệp không phải là hòa tan trong cái ngã vị, hay trong cái hữu thể tuyệt đối, nhưng là một sự mặt đối mặt trong một đón nhận, trao ban, trao trả ân tình, tức tức là việc có nhau, yêu nhau, kết hợp với nhau như là một nhưng vẫn là hai trong cá vị tính, ngã vị tính, chủ thể tính, tự do tính của mình, trước một ngã vị tuyệt đối, hay nói cách khác, trước một tha thể tuyệt đối, "un autre absolu", chứ không phải "un soi absolu", một tha thể có ngã vị tính tuyệt đối, tức là đi vào chính sự có nhau, đón nhận, trao ban, hoàn trả qua trung gian của một ngã vị là Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

Trong khoảng thời gian ngắn hẹp này, tôi xin trình bày một vài điểm cốt yếu.

Trong sự khác biệt như đã nói, tôi xin phân ra làm hai loại: Một là thần hiệp tự nhiên, nghĩa là những đời sống thần hiệp, dù là hữu thần, hữu ngã và đa ngã, dù là vô thần hay phiếm thần, nhưng do kinh nghiệm tự nhiên, suy luận tự nhiên, nỗ lực tự nhiên của con người, chứ không do sự mạc khải, sự đi trước của Thượng đế, ví dụ như Lão giáo hay là Ấn Độ giáo mà một bên có thể nói là phiếm thần, còn một bên cũng có thể nói là hữu thần; nhưng dù là vô thần, phiếm thần như Lão giáo hay là có một dạng nào hữu thần như Ấn Độ giáo, thì cũng là do suy tư của con người mà ra.

Thứ hai là thần hiệp của ba tôn giáo chính phát tích từ Tổ phụ Abraham, là tôn giáo, như tôi đã trình bày ngay từ đầu, do Thiên Chúa đi bước trước là Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Bên dưới những hiện tượng tâm lý hay những kỹ thuật tham thiền nhập định mà có thể nói chung chung có những nét giống nhau, thì sự khác biệt nằm ở hai điếm này: Thứ nhất, hình như thần hiệp tự nhiên vốn do nỗ lực của con người áp dụng những kỹ thuật rất tinh vi, đôi khi rất khó khăn về thể lý và tâm lý, chẳng hạn như phương pháp thiền định trong Phật giáo, phương pháp Yoga trong Ấn Độ giáo, hầu như là những kỹ thuật, nếu được hướng dẫn, dày công tập luyện, tất nhiên sẽ đạt được những trạng thái thần hiệp, dưới những biểu hiện tâm lý và thể lý mà đôi khi ảnh hưởng lên cả vũ trụ vật chất, và đời sống thần hiệp như thế là kết quả sở đắc hoàn toàn của công lao con người; điểm khác biệt thứ hai là cuộc đời thần hiệp đó được quan niệm như là một sự hoàn toàn siêu thăng, nếu không muốn nói là một sự hoàn toàn siêu thoát theo một hướng đi lên, càng ngày càng ra khỏi những tầng lớp hữu thể từ thấp lên cao được dàn trải theo chiều ngang.

Nhà thần hiệp, như hình ảnh được mô tả trong thuyết Platon và Tân Platon, là con người đã đưa linh hồn thoát khỏi tù ngục của thân xác, và thoát khỏi được chính cái vũ trụ vật chất này, để đi vào kết hợp với một thế giới linh niệm mà nền tảng, nguồn gốc là linh niệm thiền, và hình như kết hợp chỉ là một từ ngữ, chứ thực chất là một sự hòa tan. Sự hòa tan này hầu như xóa nhòa biên giới giữa hữu thể này hữu thể kia, mà đương nhiên các hữu thể đó không có ngã vị tính, cá vị tính như một vị Thượng tọa đã dùng hình ảnh này để mô tả đời sống nơi cực lạc, không phải là linh hồn được kểt hợp với một ngã vị nào, nhưng đó là tình trạng vắng lặng của một biển trùng dương không còn gợn sóng; cái mê lầm chỉ như ngọn gió khơi động lên những hữu thể thực sự không có gợn sóng, và lý tưởng là làm sao cho ngọn gió mê lầm đó ngừng lại, thì trùng dương trở về vắng lặng, tĩnh mịch được gọi như là một thế giới vô ngã, hay là một thế giới nhất thể đôi khi được mô tả bằng hình ảnh cái tâm hoằng đại vô ngã.

Do đó, trong những đời sống thần hiệp như vậy, có một thái độ khinh chê nào đó đối với vật chất đến mức coi vật chất như là một thứ huyền ảo, khinh chê sự hiện hữu của cá vị, của ngã vị, và lý tưởng xóa nhòa ngã vị, xóa nhòa cá vị chỉ còn lại một hữu thể duy nhất, thường được gọi là một cái "soi" [tiếng Pháp, "bản thân"], chứ không còn là cái "moi absolu", tức là một cái "bản thân" tự tại chứ không phải là một ngã vị tuyệt đối.

Vì thế, những cảm nghiệm thần hiệp ấy thường là có tính cách duy tâm, duy linh và hầu như là "phi vũ trụ, acosmique", phủ nhận cái sự hiện hữu có thực của vũ trụ này, và coi nó hoặc như là một sa đọa, hoặc như là một huyền ảo. Đời thần hiệp, hoặc là một đời của những linh hồn đã trở về hòa tan vào nguồn gốc của mọi hữu thể, hoặc chỉ là một sự thức tỉnh khỏi một cơn mê, chẳng những biết mọi sự là không, mà ngay cả chính bản thân mình như một cá vị thể, như một ngã vị thể cũng là không, nhưng chỉ có cái “soi" tuyệt đối vô ngã vị mà thôi.

Cái kết quả đó là do tri thức, do những kỹ thuật tu luyện tự nhiên, tự con người sở đắc lấy, nếu áp dụng đúng thì tất nhiên sẽ đạt, chứ không phải là một ân sủng do bất cứ ngã vị nào đem lai, có chăng thì chỉ có sự giúp đỡ, sự hướng dẫn của những con người đi trước mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

Kinh nghiệm ấy vừa có tính cách hướng thượng mà cũng vừa có tính cách hướng nội, nhưng cũng có tính cách đi sâu kết hợp một cách nào đó, không khỏi mang dáng dấp một ít nét như là phiếm thần, gần như là hòa tan, hòa đồng biến thành một với tất cả, chẳng những với các vật thụ tạo mà ngay cả với chính Đấng Tạo hóa hay là nguồn gốc của mọi sự. Có thể nói cái kinh nghiệm thần hiệp bất luận tôn giáo nào, học thuyết nào cũng đều như là cái kinh nghiệm của một giọt nước ý thức được chính mình với cái nguồn nước và các giọt nước khác chỉ là một. Cái ý tưởng "Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai", cái mình ở đây không phải chỉ là cái mình nam nữ, nhưng là bất cứ hữu thể nào và nhất là Hữu Thể nguồn gốc của mọi hữu thể, dù nguồn gốc đó có ngã vị tính hay không. Do "mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai", cho nên nhiều khi ngôn từ của các nhà thần hiệp thuộc phái vô ngã cũng có cái giọng mang âm hưởng của hữu ngã; trái lại, trong những tôn giáo hay những học thuyết chủ trương hữu ngã và đa ngã cũng có cái giọng mang âm hưởng của vô ngã.

Đã nói đến kết hiệp thì có hai mặt, một mặt là ta với mình là một, cho nên có cái giọng như là vô ngã, nhưng mình với ta lại là hai, cho nên mới có cái giọng như là hữu ngã và đa ngã. Một nhà thần hiệp Kitô giáo, như Maître Eckhart, thuộc về phái hữu ngã và đa ngã, nhưng trong những bài ngài viết, những bài ngài mô tả về thần hiệp, có những câu suýt nữa là gợi lên hình ảnh về một sự thần hiệp phiếm thần, vô ngã; trái lại một nhà thần hiệp như Kankara, thuộc về phái có thể nói là vô ngã, nhưng vì là sự phối hiệp bao hàm có hai, cho nên cũng có một vài đoạn mô tả mang những hình ảnh của phái hữu ngã và đa ngã; và gần gũi nhất, trong những bài thơ của thi hào Tagore [RabindranathTagore FRAS (tiếng Bengal: রবীন্দ্রনাথ ঠাকুর, /rəˈbɪndrənɑːt tæˈɡɔːr/, tên phiên âm là Ra-bin-đra-nát Ta-go, tên khai sinh Rabindranath Thakur, 7 tháng 5 năm 1861 – 7 tháng 8 năm 1941, biệt danh: Gurudev, Kabiguru, và Biswakabi) là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Môn, nhạc sĩ và nhà dân tộc chủ nghĩa người Ấn Độ được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel. Ông còn là tác giả của bài Quốc ca Ấn Độ (Jana Gana Mana) và Bangladesh (Amar Sonar Bangla). Quốc ca của Sri Lanka lấy cảm hứng từ các tác phẩm của ông. (Wikipedia)], có những bài thơ có thể nói là phảng phất mùi vị phiếm thần vô ngã, nhưng cũng có những bài thơ thì lại phảng phất mùi vị trao đổi của hữu ngã và đa ngã, chẳng khác gì những kinh nghiệm của những nhà thần hiệp Kitô giáo, Do Tháo giáo hay là Hồi giáo là những thần hiệp hữu ngã và đa ngã.

Vì vậy mà có cả một xu hướng đồng nhất hóa đời sống thần hiệp, không phân biệt hữu ngã, đa ngã, vô ngã hoặc phiếm thần, nhưng tôi nghĩ rằng, đó chỉ là đứng về phương diện tâm lý con người bình thường mà thôi, chứ thực ra Kitô giáo vẫn có những nét khác biệt.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo (tiếp theo)

Vì vậy, trong một tâm hồn, nói thật ra là trong toàn thân của một con người còn giữ ân nghĩa với Chúa, vẫn có một hiện tượng là Thiên Chúa ở trong con người ấy và con người ấy cũng ở trong Thiên Chúa, tức là thực hiện được điều mà tôi nói là "có nhau", hay rõ ràng hơn là "ở trong nhau". Và hình ảnh cái sự có nhau đó, cái sự ở trong nhau đó không phải như một tình yêu "platonique" [Thanh cao, thuần khiết hoặc là hão huyền, lý thuyết suông. (Từ điển Triết Thần căn bản - Ngô Minh và Nguyễn Thế Minh)], chỉ trong tâm hồn lý tưởng mà thôi, nhưng ngay cả trong toàn diện con người có thể xác, mà sự phối hiệp nam nữ là một hình ảnh, đã thể hiện được nơi người tín hữu cụ thể rõ ràng dưới dạng rước Mình Thánh Chúa có trong phép Bí tích. Sự kểt hợp ấy được thể hiện một cách có thực dưới dạng ân sủng, đó là những thụ tạo mang dấu vết, hình ảnh và chính sự hiện diện của Thánh Linh ở trong lòng của mỗi một con người, chứ không phải riêng gì ở trong tâm hồn mà thôi, bởi vì nhiều khi sự hiện diện của Thiên Chúa ở trong con người đó phát huy ra, dưới một dạng sáng láng nào đó của thân xác và kéo theo những hiện tượng như bay bổng lên, như có thể vượt qua cái khung thời gian và không gian và hiện diện ở bất cứ đâu, thấy trước được tương lai và biết được những việc quá khứ. Có điều là cái hiện thực ấy, có khi phát lộ tỏ tường, như trường hợp Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor với ba môn đệ thân yêu; có khi đương sự ý thức như một vài vị thánh đã đạt đến đỉnh cao thần hiệp, nhưng nói chung là chỉ tiềm tàng một cách vô thức, hay nói đúng hơn là siêu thức, ở trong bất cứ con người nào có đức tin và vẫn giữ ơn nghĩa với Chúa. Cái hiện thực thần hiệp ấy dường như thể hiện được một khao khát của lòng người là luôn muốn được kết hợp với tha thể thích hợp, gần như đi đến chỗ đồng nhất hóa, mà hình ảnh cụ thể nhất là hình ảnh sự kết hợp giữa đôi vợ chồng, nhưng cũng là sự kết hợp như giữa cha con, mẹ con, vua tôi, thầy trò, bạn bè, giữa người đồng bào, người đồng loại, trong hình ảnh của một nhân loại đại đồng nào đó. Hình như tôn giáo nào, triết học nào có một chiều kích hữu linh – tôi không nói là duy tâm hay duy linh – đều vươn lên một sự kết hợp nào đó với chính nguồn gốc của mọi sự, dù nguồn gốc đó được hình dung dưới một cái tâm vô ngã hoằng đại, hay một trật tự tự nhiên nào đó như trong phái Stoïcien, trong Lão giáo một phần nào có tính cách phiếm thần, hay là trở về với cái ý niệm thiện như trong Platon, hay như quan niệm Khổng giáo nói rằng thánh nhân thì cùng với trời đất mà hóa dục muôn vật; và ở nơi những tâm hồn tinh tế có xu hướng nội quan sâu xa, thì cái sự phối hiệp đó được cảm nghiệm như một hiện tượng tâm lý và có thể, như tôi vừa nói ở trên, kéo theo những hiện tượng về thể lý.

Trong lịch sử các triết thuyết, các tôn giáo có ghi chép tiểu sử của những con người đạt đến đỉnh cao sự thần hiệp ấy, hoặc là bản thân mình cảm nghiệm, trong chính nội tâm của mình, những hiện tượng tâm lý dấu chỉ của sự thần hiệp ấy, hoặc là phát lộ ra ngoài những hiện tượng mà người thứ ba có thể nhìn thấy. Plotinus, người sáng lập học thuyết Tân Platon, và những vị thiền sư, những vị đạo sĩ, những bậc thánh nhân trong Khổng giáo hình như cũng đạt đến một mức nào đó, trong kinh nghiệm, trong cảm thức thần hiệp ấy và, đương nhiên, cả Do Thái giáo và Hồi giáo, Ấn Độ giáo cũng vậy. Đứng về những phương diện tâm lý và thể lý và những phương pháp tu luyện để tạo những điều kiện về thể lý và tâm lý cho sự thần hiệp ấy xảy ra, thì hình như giữa các tôn giáo, dù là Ấn Độ giáo, Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo đều có những nét giống nhau; và kinh nghiệm ấy thường được mô tả như là một sự hướng thượng, hoặc là một sự hướng nội, để con người dần dần đi sâu vào hữu thể của chính mình, cũng như đi sâu vào chính hữu thể của vạn vật, ngõ hầu gặp cho được chính cái nguồn mạch của hiện hữu nằm, hoặc là trong đáy sâu của mỗi hữu thể, hoặc là trong đỉnh cao của mỗi hữu thể mà trước tiên là cái hữu thể của chính bản thân mình.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo

Vì vậy, tôi bước sang phần "Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo" [tức là đời sống hay kinh nghiệm Kitô hữu] mà đỉnh cao là đời sống thần hiệp giữa mỗi một tâm hồn, giữa mỗi một con người có thân xác, có linh hồn với chính Thiên Chúa. Chữ "thần hiệp" là tôi dùng để dịch từ tiếng Pháp là "mystique" [Thần hiệp: sau này có lúc được diễn giả thay bằng chữ "huyền giao"]. Đối với các anh chị đây, là những vãn nghê sĩ, thì đời sống cảm thức có lẽ có một tầm mức khá quan trọng, cho nên tôi xin cố gắng tóm tắt, trình bày những nét chính của Đời sống cảm thức tôn giáo trong Kitô giáo. Nếu định nghĩa tóm tắt Kitô giáo trong hai chữ tình yêu, thì cuối cùng cảm thức tôn giáo căn bản trong Kitô giáo chính là tình yêu, tình yêu giữa Thiên Chúa với con người. Như tôi đã trình bày, nguồn gốc của tình yêu chính là tương quan liên ngã vị trong Thiên Chúa, sau đó nguồn mạch tình yêu ấy mới tràn ra ngoài để nhắm tới những đối tượng là những ngã vị được tạo thành, là các thiên thần và con người có thể xác, có tâm linh. Thiên thần và con người được tạo dựng nên là để được mời gọi đi vào thông dự cái mầu nhiệm tình yêu trong Ba Ngôi. Chỉ khi nào bước vào Nước Trời vĩnh cửu, bấy giờ tương quan ấy mới được kiện toàn. Với sự Nhập Thể, Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, khi các linh hổn đón nhận và nhìn nhận Ngài chính là Đấng Cứu thế, gia nhập đoàn chiên của Ngài, trở nên thành viên của dân Ngài, thì mỗi một linh hồn cũng đã khởi sự cuộc sống tình yêu liên ngã vị giữa mình và Thiên Chúa, như một mầm mống đã được gieo vào trong tâm hồn mình ngay ở trần gian này, mà biểu tượng rõ ràng nhất là trong việc Hiệp lễ, tức là việc rước Mình Thánh Chúa. Khi rước lễ, linh hồn tín hữu hiến dâng mình lên cho Chúa, nhưng đồng thời cũng đón nhận lấy Ngài, để hai ngã vị được kết hiệp nên MỘT, khác nào đôi nam nữ yêu nhau, kết hợp với nhau trong động tác trao xương gửi thịt mà tôi đã phác họa qua, trong phần trình bày về Bí tích Thánh Thể. Sự phối hiệp ấy, trước hết là dưới bình diện hữu thể, do đó, về phương diện tâm lý, mặc dầu hiện thực là có thật, có thể nhiều người, nhất là những người ít có xu hướng nội quan, không ý thức được, không cảm nhận được.

Tuy nhiên, trong thái độ của đức tin, của lòng cậy trông, của lòng yêu mến [tin, cậy, mến] và trong Bí tích Thánh Thể, sự kết hiệp giữa loài người và Thiên Chúa đã khởi đầu ngay từ khi một con người chịu phép Thánh tẩy, mà tôi đã trình bày như một cuộc Thánh hiến, hay là như một cuộc tháp nhập vào chính Đức Giêsu Kitô. Sự phối hiệp ấy được thực hiện trong chính con người có linh hồn, có thể xác, cho nên mỗi tín hữu Kitô giáo thường được gọi như là một Bình Thánh, là nơi mà chính Thiên Chúa Ba Ngôi ngự xuống, qua trung gian Ngôi Hai nhập thể làm người, dưới sự kết hợp của Thánh Linh, để đi trở về trong lòng Chúa Cha như lời Đức Giêsu đã hứa hẹn trong bữa Tiệc ly, trước khi Ngài hiến mình chịu Khổ Nạn: "Ta sẽ đến ở trong các con và nơi nào Ta ở, thì Ta cũng sẽ đem các con vào nơi đó, nghĩa là trong cung lòng Chúa Cha, để cho các con nên một như Cha và Ta đã nên một"; và Ngài cũng đã xin với Chúa Cha: "Con ở đâu, thì con cũng xin cho họ cũng được ở đó với con" (x. Ga 17,20-26), nghĩa là chính trong cung lòng của Chúa Cha.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Tôi xin dùng một hình ảnh ví von để nói lên cái hiện thực đó, là khi tạo dựng nên vũ trụ hướng đến cứu cánh, Thiên Chúa giống như "đi hỏi vợ cho con"; tuy nhiên, "người vợ” đây không có từ trước, nhưng chính Thiên Chúa đã gọi lên cho có từ hư không. Và cuộc hôn phối giữa Thiên Chúa và thụ tạo ấy đã thể hiện trong chính mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể làm người, chịu tử nạn và sống lại, là mầu nhiệm vẫn còn tiếp diễn qua trung gian của Hội Thánh là một bí tích lớn, mà trung tâm là Bí tích Thánh Thể được tiến dâng hằng ngày, hằng giây hằng phút, trong các Thánh đtrờng ở khắp mọi nơi. Nơi Bí tích Thánh Thể các Kitô hữu đến, vừa dự phần hưởng thụ mối tình Thiên Chúa trao ban qua trung gian Đức Giêsu Kitô, vừa hiến dâng chính bản thân mỗi người, kéo theo toàn thể vũ trụ, toàn thể nhân loại lên Đức Chúa Cha, cũng qua trung gian Đức Giêsu Kitô hiện diện thực sự trong bí tích này, qua bàn tay thừa tác vụ của những con người được Ngài lựa chọn để thực hiện điều Ngài dạy: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy". Vì vậy, có nhiều người đã nói trung tâm Kitô giáo là Thánh lễ Tạ ơn (tức là Bí tích Thánh Thể), được hình dung dưới hình ảnh tiệc cưới Con Chiên, Con Chiên đây là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, còn tiệc cưới là để kết hôn với nhân loại, với vũ trụ và với từng con người riêng biệt. Cứu cánh muôn đời của vũ trụ không gì khác hơn là sống trong tiệc cưới liên hoan ấy cho đến mãi mãi, không bao giờ dứt, như trong tín điều các Kitô hữu vẫn tuyên xưng: "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy."

Bản dịch hiện nay là "Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen.” nhưng thật ra, tiếng Pháp là "vie éternelle", chứ không phải "vie future", bởi vì như tôi đã nói nhiều lần, cái vĩnh cửu là một chiều kích siêu thời gian vô thủy vô chung mà mỗi điểm thời gian đã có phần thông dự chứ không phải một cái gì đến sau. Cái vĩnh cửu ấy có thể nói được là đã chuẩn bị, đã tiên báo trong đời Đạo Cũ, đã thực hiện trong thân thế sự nghiệp Đức Giêsu Kitô và vẫn tiếp diễn từ ngày Lên Trời, trong lòng Giáo hội cho đến ngày Cánh chung. Quá khứ, hiện tại hay tương lai chỉ là những điểm phân tán từ một chiều kích gọi là "chiều kích vĩnh cửu". Cho nên, Thiên đàng của Kitô giáo không nằm ở một thời điểm tương lai xa nào, nhưng được thu gồm như lúa gặt vào kho lẫm muôn đời, vô thủy vô chung, siêu thời gian tính. Sở dĩ nhắc lại tiếng Pháp là "vie éternelle", chứ không phải "vie future", bởi vì sự sống thật không dàn trải trong thời gian, dù là thời gian sau này, nhưng sự sống thật được gieo trong từng điếm thời gian và được gặt đưa vào kho lẫm của vĩnh cửu siêu thời gian. Những từ ngữ như: lên trời, lên Thiên đàng, ngự bên hữu, chẳng qua chỉ là những hình ảnh để cho trí tưởng tượng con người có thể thông qua được, bởi vì con người vẫn còn bị giam hãm trong khung không gian và thời gian, nên đành phải tạm dùng vậy, chứ thực ra Thiên đàng hay Hỏa ngục là những hiện thực có tính cách mầu nhiệm siêu việt, vượt qua sự hình dung cũng như quan niệm của con người.

Như đã nói ở trên, tiệc cưới liên hoan là cuộc liên hoan mừng Hôn lễ giữa Ngôi Hai Thiên Chúa với vũ trụ, với toàn thể nhân loại và với mỗi một con người. Từ khởi đầu cho đến nay, thiên tình sử giữa Thiên Chúa và loài thụ tạo có lịch sử tính, trước hết là diễn trình của vũ trụ, rồi đến lịch sử của nhân loại, đến lịch sử dân tộc Do Thái, đến thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô và lịch sử của Giáo hội Kitô giáo, tức là Dân Mới của Thiên Chúa cùng với tất cả những hệ quả về văn hóa, xã hội, tư tưởng, đạo đức, triết học, v.v... của dân ấy. Nhưng, bất luận thế nào, trong thiên tình sử bao gồm cả vũ trụ và nhân loại kia, thì những đối tượng cụ thể vẫn là những con người có cá vị tính, chủ thể tính, ngã vị tính, tự do tính, là mỗi một tâm hồn. Cuộc hôn phối này có chiều kích vũ trụ, "dimension cosmique", chiều kích toàn thể nhân loại, "dimension humaine", nhưng cũng có chiều kích cá nhân hay ngã vị, "dimension individuelle" hoặc "dimension personnelle" mà mỗi một linh hồn được mời vào tham dự.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Và đến đây, tôi xin được trình bày một phần coi như là thu gồm kết thúc. Thiên Chúa là Đấng tự hữu, vĩnh cửu trong mầu nhiệm Nhất Thể Tam vị, sống trong một tương quan liên ngã vị muôn đời, tức là trao ban, đón nhận, trả về toàn bộ chính mình, gọi là Tình Yêu, trong sự tự do của ngã vị tính, Chủ Thể tính; và đó chính là hạnh phúc trong hiện hữu của Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị, đó chính là sự hoàn hảo, toàn thiện, chí thánh của Ngài. Ta có thể ví Hữu Thể tự hữu toàn thiện đó như một ngọn suối, mà bản chất của ngọn suối là tuôn tràn ra bên ngoài mình; vì vậy cho nên cái phúc lạc, cái sự sống, cái sự hiện hữu ấy, Thiên Chúa không hề ích kỷ, chỉ khép kín lại trong cái chu tuần trao ban, đón nhận, hoàn trả của Ba Ngôi mà thôi, nhưng có một sự tràn ra ngoài. Sự tràn ra ngoài này không phải theo quan niệm "lưu xuất, émanatisme", như một điều tất yếu, nhưng là một quyết định tự do của chính Thiên Chúa ban sự sống, ban hạnh phúc trong tự do, trong sự lựa chọn, nghĩa là Ngài làm nhưng không phải do thúc đẩy của một tất yếu, mà do TìnhYêu tự do muốn trao ban, và đó chính là nguồn gốc đã thúc đẩy Ngài dựng nên vũ trụ. Cái vũ trụ này từ không mà được tạo ra, rồi được mời lên đến đỉnh cao là đi đến chỗ thông dự vào chính Tình Yêu, Hạnh Phúc của Ngài, bằng cách tháp nhập vào Ngôi Vị gần gũi nhất với loài thụ tạo, là Ngôi Hai, tức là Ngôi Con, như có cả một quy trình thăng tiến từ cái hư không vào với chính cái Tự Hữu Thiên Chúa Ba Ngôi. Hư không rồi lên có, có vô cơ rồi lên hữu cơ, tân hữu cơ, thực vật, động vật lên con người và các thiên thần. Thiên Chúa chọn một thụ tạo như là "trục" của vũ trụ ấy, là con người, tức là điểm kết nối giữa vật chất và tâm linh, để như cái móc khâu vào, kéo vào, qua trung gian của Ngôi Hai Thiên Chúa, trong sự Nhập Thể của Ngài, nghĩa là Ngài xuống đồng nhất hóa với chính cái hữu thể đó, đế qua trung gian hữu thể đó mà kéo toàn thể vũ trụ đi vào, nói theo thuật ngữ chuyên môn, trong vinh quang của Thiên Chúa, tức là sự Hiện Hữu, Tình Yêu, Hạnh Phúc và Sự Sống muôn đời của Ngài. Như thế, lịch sử của cả vũ trụ, trong đó có lịch sử của con người, khởi đầu bằng việc tạo lập trời đất từ hư không và kết thúc bằng sự giáng lâm của Đền Thánh Giêrusalem trang điểm như một tân nương chào đón tân lang, ngày vũ trụ đi vào vinh quang, đạt tới chính cùng đích của mình...

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Nói tóm lại, tương quan Cha, Con, Thánh Thần chính là cái làm nên Ba Ngôi, vì thế, gọi đó là tương quan bản thể, "relation substantielle" hay là "relation subsistante". Và cái tương quan đó bao hàm một sự trao ban hoàn toàn triệt để, một sự đón nhận hoàn toàn triệt để, một sự trao trả trở về lại triệt để: trao ban là Cha, đón nhận là Con, trao ban trở về là Thánh Thần; chính cái động tác trao-ban-đón-nhận-trao- ban-trở-về đó làm nên Cha là Cha, Con là Con, Thánh Thần là Thánh Thần.

Không có tương quan đó thì không có Cha, không có Con, không có Thánh Thần. Do đó, chính cái tương quan trao-ban-đón-nhận-trao-ban-trở-về đó, trong sự tự do của các Ngã vị, là yếu tính, có thể nói là bản tính, bản thể của Thiên Chúa, cho nên mới định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu. Chẳng phải là có Thiên Chúa rồi thì Ngài yêu cũng được mà không yêu cũng được, nhưng Ngài chỉ có trong mức độ Ngài yêu nhau trong tương quan liên Tam ngã vị của một Thiên Chúa có một bản tính duy nhất. Điều này Kitô giáo gọi là mầu nhiệm Thiên Chúa Nhất Thể Tam vị, hay là Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi là Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần. Cha là "Nguồn gốc" Con là "Ngọn", nhưng trong cái "Ngọn" là toàn bộ "Nguồn gốc" được trao ban, và Ngọn, sau khi đã đón nhận hoàn toàn chính Cha chứ không phải như một tặng phẩm của Cha, chính bản thân Cha múc cạn tất cả rồi lại trao trở về toàn diện, không phải như một tặng phẩm, một món quà. nhưng là chính bản thân Cha múc cạn hết trong một tương quan tình yêu, và tương quan tình yêu này, chính vì múc cạn hết hai chiều trao ban, hai chiều hoàn toàn triệt để tận căn giữa Ngôi Nhất và Ngôi Hai, cho nên tương quan tình yêu này cũng có phẩm giá, vị thế của một Ngã vị, đó gọi là Ngôi Ba.

Có thể hình dung Ngôi Cha như "Ngọn nguồn", Ngôi Con, trong một hình ảnh nào đó, cũng là "Ngọn Nguồn" và Ngôi Ba như một Thần Lực nào đó; nhưng như vậy, chẳng qua là chỉ hình dung để tạm thấy lờ mờ, chứ thật ra, cái hiện thực ấy, tôi dùng chữ "hiện thực", chứ không dùng chữ "chân lý", là bởi vì đây là một hiện thực sống động, chứ không phải một chân lý trừu tượng vượt quá mọi tầm suy luận - cái hiện thực ấy vượt quá mọi tầm kinh nghiệm của con người. Sở dĩ con người biết được cũng chỉ là do sự mạc khải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô mà thôi. Vì lẽ, "Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết" (Ga 1,18). Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian (x. Ga 3,16)...

Như thế, trong ba Ngã vị Thiên Chúa, Ngôi Hai là Con, từ đời đời đã được Ngôi Cha sinh thành và đã cùng với Ngôi Cha tác thành nên vũ trụ, giờ đây Ngài lại có dáng dấp như là một thụ tạo, tôi nói là "có dáng dấp như là một thụ tạo" từ Chúa Cha mà ra, do đó, có một phần nào gần gũi với các thụ tạo từ Thiên Chúa mà ra. Vì vậỵ, có thể nói rằng mọi thụ tạo, từ vật chất vô tri cho đến các thiên thần là thuần linh, đều mô phỏng một phần nào đó chính Ngôi Con, và các thụ tạo ở vị thế gần gũi nhất với Ngôi Con, được mời gọi tiến lên đến Ngôi Vị của Ngôi Con bằng cách thâm nhập vào trong Ngài, qua trung gian thân xác và nhân tính của Ngài trong mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể, chẳng những làm người, mà còn mang lấy xác phàm, tức là kết hợp nhuần nhuyễn với vật chất; vì ở cấp thấp nhất thì thân xác Đức Giêsu Kitô cũng đươc tạo thành bằng những tế bào, những phân tử, những nguyên tử vốn là vật chất.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Thật ra, nói rằng Thiên Chúa là Nhất Thể Tam vị, thì đó chỉ là một cách nói trừu tượng, sau khi đã trải qua hằng trăm năm suy nghĩ, cân nhắc, tính toán, lựa chọn do cộng đoàn dân Chúa tuyên xưng, định rõ nội dung đức tin. Còn nếu chỉ đọc những lời của Đức Giêsu Kitô, chúng ta không thấy những từ ngữ trừu tượng mang dấu vết những phạm trù loài người.

Đức Giêsu Kitô chỉ nhắc đến Thiên Chúa như là Cha của Ngài, và cho thấy tất cả mọi sự nơi Ngài đều do Ngài hoàn toàn đón nhận từ Cha Ngài, nghĩa là có một dạng nào đó. Ngài được sinh ra bởi Cha Ngài, nhưng đồng thời cũng có những ngôn từ, nhưng hành vi của Ngài cho con người loáng thoáng thấy Ngài cũng có những quyền năng, có tính cách của chính một Thiên Chúa. Rồi trước khi đi vào cuộc Khổ Nạn, Ngài cũng hứa hẹn, khi rời khỏi trần gian này để ngự bên hữu Đức Chúa Cha, sẽ phái một Đấng đến để an ủi, dạy dỗ, khai triển, nâng đỡ, hướng dẫn cái cộng đoàn mà Ngài thành lập nên, tức là Giáo hội Kitô giáo, tức là dân Thiên Chúa trong thời Đạo Mới, và Đấng mà Ngài sẽ gửi xuống ấy được gọi là Thánh Linh, cũng có một dạng như là một chủ thể có ngã vị tính.

Sau hàng trăm năm đời sống thực tế suy nghĩ tìm tòi, cân nhắc lựa chọn, một công đồng của Giáo hội đã họp lại và đã quyết định đi đến chỗ công bố một cách rõ ràng minh bạch rằng, trung thành với truyền thống độc thần của Do Thái giáo: Thiên Chúa chỉ có MỘT, nhưng trong Thiên Chúa một bản tính duy nhất đó có một tương quan nhất định giữa ba thực thể gọi là ngã vị.

Đến đây chúng ta bước sang một phạm trù đặc biệt của Kitô giáo, đó là phạm trù có thể tạm dịch là "Tương quan bản thể", tiếng Pháp là "Relation substantielle", hoặc là "Subsistence". Tôi mạn phép các anh chị để đi vào một bình diện hơi trừu tượng. Thường thường người ta quan niệm tương quan chỉ là một tùy thể, như một "accident" (cái phụ/ ngẫu nhiên) có thể có mà cũng có thể không. Ví dụ, tương quan trên dưới: A ở trên B, nhưng nếu A và B ở hai chân trời khác nhau, thì sự trên dưới có thể không có mà A và B vẫn có, hoặc là cái tương quan đó cũng có thể thay đổi, ví dụ A ở trên B nhưng cũng có thể đảo ngược lại được, B ở trên A, bởi vì, khi chưa có tương quan trên - dưới hoặc dưới - trên giữa A và B, hoặc có thể không bao giờ có tương quan trên - dưới, dưới - trên giữa A và B, thì A tự nó vẫn có như là một hữu thể. Chính vì vậy, tương quan chẳng qua chỉ là một phụ thể hay là một tùy thể, có đó nhưng có thể không có, có như vậy nhưng cũng có thể có cách khác.

Trái lại, tương quan liên ngã vị trong Thiên Chúa không phải là một cái gì đến sau các ngã vị, chẳng hạn như, có Ngôi Cha trước một thời gian đã, và trong thời gian đó chỉ có một mình Ngôi Cha mà không có Ngôi Con, sau đó mới có Ngôi Con và Ngôi Con có là có đó, nhưng tương quan Cha-Con chỉ là một cái gì tùy thể; và Ngôi Thứ Ba cũng thế, có thể có Ngôi Thứ Ba nhưng không có tương quan giữa Ba Ngôi. Nếu thế thì tương quan chỉ là tùy thể. Tuy nhiên, thực tế tương quan trong Ba Ngôi thì khác hẳn: Cha chỉ có trong mức độ là Cha, nghĩa là cái có của "tính Cha" chỉ có khi có Con, và "tính Con" chỉ có khi có Cha và có thể nói rằng sự hiện hữu của Cha là chính tương quan Cha - Con, sự hiện hữu của Con chính là tương quan Con - Cha, và sự hiện hữu của Ngôi Ba chính là tương quan nối liền giữa Cha và Con ấy. Như thế không có chuyện Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần có thể có ở dạng tách rời nhau mà không có tương quan, bởi lẽ chính cái tương quan múc cạn sự hiện hữu của Ngôi Vị Cha, Con và Thánh Thần, chính cái tương quan làm nên Cha là Cha, không có tương quan thì không có Cha, chính cái tương quan làm nên Con là Con, không có tương quan thì không có Con, chính cái tương quan yêu đương giữa Hai Ngôi làm nên Ngôi Ba, không có tương quan đó thì không có Ngôi Ba.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.