Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Ý tưởng về tình yêu trong Kitô giáo là, như đã được thể hiện nơi một vài vị thánh, khi tiếp xúc với bất cứ người nào, với một hữu thể nào, thì hầu như quên đi tất cả và trong vũ trụ này chỉ có một mình hữu thể ấy mà thôi. Thái độ đó gần như thái độ của một người yêu đối với một người yêu. Do đó, trước thái độ như vậy, ai cũng có cảm tưởng như mình được yêu một cách độc đáo, duy nhất và có thể nói là trên hết. Tình yêu dưới dạng đó phần nào phản chiếu tình yêu nơi Thiên Chúa, vì thế mà có tính cách tuyệt đối và thường cũng đưa đến thái độ thờ phượng và hy sinh như trong tiếng Pháp, đôi khi yêu nhau người ta nói với người mình yêu, "Je t'adore" (anh yêu em), anh tôn thờ em hoặc ngược lại.

Từ đó, người được yêu có cảm tưởng như mình được tôn lên địa vị tuyệt đối, kết quả là người yêu có thể đi đến chỗ hy sinh hoàn toàn bản thân cho người mình yêu. Đúng là như Đức Giêsu Kitô đã nói: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13). Tình yêu ấy phát xuất từ một hữu thể có chủ thể tính, có ngã vị tính, có tự do tính gửi đến một hữu thể cũng có chủ thể tính, có ngã vị tính, có tự do tính trong một tương quan liên ngã vị. Xin lỗi các anh chị, các anh chị cho phép tôi dùng tiếng Pháp để nói tình yêu đó là một "relation interpersonnelle" (mối quan hệ với nhau), giữa một "personne" (người) với một "personne", cả hai "personne" đó đều duy nhất, độc đáo vô tiền khoáng hậu, nói tóm lại theo tiếng chuyên môn, là giữa hai nhân vị, hoặc giữa hai ngã vị, mà chỉ vì đó là một ngã vị, một "personne", chứ không phải một sự vật, không phải "une chose" (một điều).

Nhà triết học Pascal có nói rằng khi anh yêu tôi vì đức tính này, đức tính nọ, thì chẳng qua anh trân trọng những đức tính đó mà thôi chứ không phải anh yêu tôi như tôi là tôi. Thực ra, đó không phải là tình yêu mà là ưa thích một sự vật có phẩm tính này phẩm tính kia. Vì thế, không ai nói yêu một quả cam, nhưng đi ra chợ, chọn cam thì chọn bất cứ quả cam nào có đủ những đặc tính mà mình muốn, nghĩa là thơm, ngon, ngọt, v.v... và nếu có tiền thì, khi thấy một quả cam nào có nhiều đặc tính ấy hơn, người ta sẵn sàng bỏ quả cam đã lựa mua trước đó để mua quả cam vừa ý nhất ấy.

Trái lại, trong tình yêu, mà biểu hiện cụ thể nhất ở trần gian này là tình yêu trai gái, thiếu gì lúc chúng ta nghe thấy lời phẩm bình của thiên hạ về những mối tình nam nữ, chẳng hạn anh chàng kia, thiếu gì con gái, lại đi yêu cô ta, hoặc ngược lại... Xin thưa, việc đó giống như Pascal đã nói, trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu được. Thực ra, căn bản của tình yêu là trân trọng một ngã vị duy nhất nào đó, chỉ vì đó là một ngã vị. Đương nhiên thoạt đầu có thể yêu người này, yêu người nọ, đặc tính này, đặc tính kia, nhưng nếu chỉ yêu đặc tính của người ấy thì chưa phải là tình yêu thật, bởi vì chúng ta biết đối với con người, trong cuộc sống trải qua hàng chục năm, những đặc tính kia có thể phai nhạt, suy giảm và có thể mất hẳn. Còn tình yêu chân thật, cho dù những đặc tính khơi mào cho tình yêu đó có phai mờ, có mất đi, thì tình yêu vẫn còn nguyên vẹn. Một hình ảnh có thể giúp ta hiểu, đó là tình mẹ thương con, thương con vì con là con, chứ đâu phải vì con đẹp, con khôn, con giàu, con mạnh. Thật vậy, chúng ta thấy có những bà mẹ, đối với những đức con không may bị tật nguyền từ lúc lọt lòng, tình thương yêu lại càng dào dạt, và khi đứa con đó chẳng may mất đi, người mẹ sẽ đau đớn tiếc nuối như đối với bất cứ đứa con lành lặn nào khác. Tình yêu như thế nơi con người, theo cái nhìn của Kitô giáo, chính là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa nơi tâm hồn Ngài đối với bất cứ con người nào.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Nhân đây, tôi cũng xin trình bày một ý tưởng duy nhất, tôi muốn nói rằng đời sống luân lý của Kitô giáo chỉ thâu gồm lại trong một lời duy nhất, đó là tình yêu thương, và nếu từ ngữ tình yêu không bị lạm dụng một cách lệch lạc, thì lẽ ra phải dùng chữ "tình yêu", chứ không phải "yêu thương". Tình yêu trên thế gian này được biểu hiện rõ ràng nhất, đó là tình yêu nam nữ và tôi xin nhắc lại, những so sánh tôi sắp trình bày đây là để nêu bật tính chất độc đáo của nền luân lý Kitô giáo, chứ không phải nói chuyện hơn thua. Vậy, tôi xin miễn bàn đến những qua niệm về tương quan nhân loại của các học thuyết như của Platon, Stoïcien, của các nhà hiền triết khác, tôi chỉ đề cập đến hai quan niệm mà người Việt chúng ta đã đón nhận là quan niệm từ bi của Phật giáo và quan niệm ái nhân của Khổng Mạnh.

Khi nói rằng nền luân lý của Kitô giáo thâu gồm lại trong hai chữ "tình yêu", tôi cố ý tránh dùng chữ "yêu thương" vì là không muốn dùng đến chữ "thương", chỉ trừ vùng Thừa Thiên - Huế dùng chữ "thương" đồng nghĩa với chữ "yêu", còn nhìn chung thì người Việt ta, khi nói đến chữ "thương" thì thường ít nhiều ý thức, hoặc là trong tiềm thức, không thể không có sự liên tưởng nào đó đến một chữ khác, đó là "thương xót" hoặc thấp hơn là "thương hại". Chúng ta cũng thấy lòng thương người được biểu hiện dưới dạng giúp đỡ kẻ hoạn nạn, thiếu thốn, đau khổ, đem lại cho họ sự an ủi, giúp họ ở nhiều khía cạnh từ cơm ăn áo mặc cho đến những buồn vui của kiếp người ở giữa thế gian này. Sở dĩ như vậy là vì, trên thực tế, cuộc sống con người giữa thế gian này đa phần thường gặp phải những tiêu cực, cần sự giúp đỡ, càn sự an ủi của đồng loại; và nhất là trong những lý thuyết có hơi nhấn mạnh đến khía cạnh tiêu cực của cuộc sống dưới dạng đau khổ, thì cái tương quan giữa con người với nhau lại càng nhấn mạnh đến phương diện giúp người hoạn nạn, cứu người đau khổ, an ủi kẻ buồn phiền, v.v... Và như trong Phật giáo, cái tình cảm "thương" đó được diễn tả bằng chữ "từ bi", vượt quá giới hạn của loài người mà bao trùm hết thảy mọi loài chúng sinh và những ý tưởng cao vời trong Phật giáo được biểu hiện dưới hình ảnh của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, được gọi là đấng cứu khổ cứu nạn, và phát nguyện của ngài là khi nào chúng sinh cuối cùng thoát khỏi trầm luân đau khổ để đi vào cõi Niết Bàn cực lạc, bấy giờ ngài mới là chúng sinh cuối cùng bước vào.

Cũng chẳng giấu gì các anh chị, trước khi thành Kitô hữu, tôi đã có một thời gian chiêm ngưỡng Đức Thích Ca và một phần nào cũng chịu ảnh hưởng những lời giáo huấn vô cùng cao siêu, tốt đẹp của ngài, do đó, trong vấn đề tình cảm, đối với các sinh vật khác, lời dạy giới sát sinh của ngài vẫn đang còn lưu lại ảnh hưởng trong tâm hồn tôi và ít nhiều chi phối cuộc sống của tôi khi tiếp xúc với các sinh vật.

Trong Giáo hội Công giáo cũng có một vị thánh, thánh Phanxicô Assisi, cũng đã có một thái độ và cảm tính đối với các sinh vật khác được ngài biểu lộ bằng cách gọi các sinh vật ấy là anh, là chị, là em; thậm chí ngài còn dùng cách xưng hô anh, chị, em đối với các thụ tạo vô tri vô giác. Phần lớn sinh hoạt bác ái của Giáo hội Kitô giáo, trong hai mươi thế kỷ quá, cũng nói rõ lên tính cách thương giúp những con người rơi vào cảnh đau thương, thiếu thốn, chẳng hạn như hiện nay, toàn thể thế giới đều để ý đến Mẹ Têrêsa Calcutta, hoặc nữa là, trong thực tế lúc này, các nữ tu chăm sóc những người mắc bệnh nan y được xem như là tiêu biểu của một nền luân lý Kitô giáo chú trọng đến việc thương giúp những người bất hạnh phải chịu đau khổ, và đau khổ đó có thể đến từ bệnh hoạn, cũng có thể đến từ bất công xã hội, v.v...; những sinh hoạt, nói chung, thường được gọi là những hoạt động từ thiện, bác ái, thì theo như lời Thánh Augustinô đã nói: "Từ thiện bác ái chỉ là điều kiện thấp của lòng yêu người mà thôi".

Bản chất tình yêu, như thánh Augustinô đã nói: "Tôi yêu ai là khi tôi thấy vui mừng vì sự hiện hữu của người ấy", chứ không để ý đến khía cạnh họ giàu sang hoặc nghèo đói, đau khổ hoặc hạnh phúc. Tình yêu là một chiều kích của con người quý trọng sự hiện hữu, từ sự hiện hữu của Thượng đế đến sự hiện hữu của tha nhân và của bất cứ thụ tạo nào; và nếu cần, hy sinh cả sự hiện hữu của mình để vun quén, tài bồi, phát triển sự hiện hữu của những hữu thể ấy. Có thể nói, đối với những hiện hữu, với những hữu thể ấy, trong độc đáo tính, duy nhất tính dù là của một đóa hoa hoặc của một con người, ta đều có thái độ tương tự như một người yêu đối với một người yêu, tức là trên thế gian này chỉ có một mình người yêu của ta thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý

Sinh hoạt của Kitô giáo cho thấy đó là sinh hoạt phụng vụ tôn giáo, nhưng là một sinh hoạt phụng vụ tôn giáo được hiểu theo nghĩa rộng và sâu xa, như tôi đã trình bày ở trước, chứ không phải chỉ là một mảng tách rời khỏi đời sống toàn diện. Như vậy, đời sống Kitô giáo, dưới khía cạnh luân lý, chẳng qua chỉ là những điều kiện chuẩn bị tâm hồn để sống một đời sống tôn giáo đích thực và đương nhiên là kết quả của một đời sống tôn giáo đích thực.

Trong ba năm rao giảng, Đức Giêsu Kitô có đề cập đến những vấn đề luân lý, từ trong đời sống cá nhân với những nhân đức, đến trong đời sống xã hội với những bổn phận làm người sống chung với nhau. Nhưng, xét cho cùng, những lời giảng dạy của Ngài về luân lý tuy là quan trọng, nhưng có thể nói là thứ yếu, theo nghĩa nó chỉ là những điều kiện chuẩn bị để đón nhận Nước Trời, và nó cũng là kết quả của việc tin vào Ngài, là dấu hiệu chứng tỏ rằng đời sống đức tin đó là đời sống đức tin thật và đã thấm nhuần toàn bộ cuộc sống của người tín hữu. Nội dung giáo lý của Ngài chú trọng vào tín lý, mà trong đó Ngài nói về chính Ngài, để nhân loại biết Ngài là ai, đến để làm gì, và như chúng ta đã thấy ở trên kia, Ngài đến để thực hiện chương trình cứu độ bằng cái chểt và sự sống lại của chính Ngài. Cuối cùng, chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa hoàn toàn bắt nguồn từ tình yêu của của Thiên Chúa, đi qua con đường tình yêu rồi kết thúc bằng cách trở lại nguồn mạch tình yêu.

Vậy, có thể tóm tắt nền luân lý Kitô giáo trong hai chữ TÌNH YÊU: Tình yêu giữa con người đối với Thiên Chúa và tình yêu giữa con người với nhau. Như chính Đức Chúa Giêsu Kitô đã nói, mọi điều luật đều thâu gồm vào hai điều mà thực ra là một, đó là mến Chúa và yêu người. Đôi khi chúng ta vẫn nghe nói đạo nào cũng như đạo nào, chẳng qua cũng chỉ là khuyến thiện trừng ác; quả thật, nếu chỉ hiểu tôn giáo như là một phương tiện để chỉ giúp con người có một đời sống luân lý mà thôi, thì nói như vậy là đúng, nhưng Kitô giáo không phải chỉ là một phương tiện nhằm giúp con người sống một đời sống luân lý, mà đời sống luân lý trong nhãn giới Kitô giáo - như tôi đã nói và thường nhắc lại - chỉ là điều kiện và kết quả của đời sống tôn giáo.

Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những nền đạo lý hết sức cao siêu, chẳng hạn như luân lý của Khổng giáo, luân lý của thuyết Platon, luân lý của phái Khắc kỷ [Stoïcien], luân lý của phái Pythagoricien...; tuy nhiên, người nào trong nhân loại này dám vỗ ngực tự xưng mình đã thực hiện đúng lời dạy của Khổng Tử ái nhân như ái thân...

Quả thực, nếu chỉ cần đạt đến một đời sống luân lý mà thôi thì có thể nói không cần đến những lời giảng dạy của Đức Giêsu Kitô làm gì, miễn sao theo cho được những lời giảng dạy của các bậc hiền triết Đông Tây kim cổ cũng đã là quá đủ, nhưng trên thực tế, có ai đã làm được như vậy đâu. Và muốn nói quá đi một chút, tôi có thể khẳng định rằng, đứng về phương diện luân lý thuần túy, nguyên tắc, luân lý của Phật giáo có một dạng nào đó cao hơn luân lý Kitô giáo, bởi vì Kitô giáo đương nhiên có bao hàm tình yêu thương đối với loài vật, đối với vũ trụ, nhưng chỉ nhấn mạnh, đề cao tình thương yêu giữa con người với nhau, trong khi Phật giáo còn dạy thương yêu bất cứ chúng sinh nào và phải giải thoát bất cứ chúng sinh nào, từ con sâu cái kiến, đều được biểu lộ trong giới răn cấm sát sinh. Do đó, trong phần trình bày về cái cổt lõi của luân lý Kitô giáo, tôi không đề cập đến chuyện đúng sai hoặc hơn thua giữa nền đạo đức luân lý Kitô giáo với các nền đạo đức luân lý khác, nhưng tôi chỉ muốn giúp các anh chị nắm bắt được tính chất độc đáo của nó mà thôi, chứ không có ý so sánh hơn thua. Các anh chị vui lòng nhớ cho điều quan trọng ấy.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Thí dụ, tôi xin nói, trên đất nước Việt Nam chúng ta, trước ngày vị truyền giáo đầu tiên đặt chân lên, thì những hình thức thờ phượng, chẳng hạn như việc tế giao của vua chúa, việc thờ phượng các anh hùng, việc thờ phượng các thành hoàng, việc thờ phượng tổ tiên đều có một khía cạnh tích cực nào đó và cũng có thể được Thiên Chúa chúc lành và đón nhận trong sự công bằng, trong lòng từ ái của Ngài. Vì thế, sau một thế kỷ Giáo hội dùng biện pháp, có thể nó là cụ thể và có tính chất thiết thực, hầu như ngăn cấm các tín hữu không được tham dự các buổi lẽ ấy, bởi vì sợ đức tin còn non yếu, vì sợ tâm thức tôn giáo chưa được sâu xa hùng mạnh và từ đó có thể đi đến một sai lầm nào đó. Còn ngày nay, sau một thời gian, khi đức tin của cộng đồng Kitô hữu Việt Nam đã vững mạnh, đã bén rễ sâu sắc, đã đủ trưởng thành, thì Giáo hội lại cho phép các Kit ô hữu được thông dự phần nào vào những hình thức thờ phượng nào đó của các anh em ngoài Công giáo, miễn là đừng để rơi vào những tục lệ có tính cách mê tín dị đoan. Còn nếu sống đúng tinh thần tri ân đối với cha mẹ, đối với những bậc thánh nhân, quân tử, những bậc có công với địa phương, với dân tộc để bày tỏ tấm lòng biết ơn, và có thể đối với cả những bậc tạm gọi là thần linh, biểu hiện cho chân, thiện, mỹ, thì Giáo hội cũng nhìn với một cái nhìn cởi mở, đón nhận và chúc lành.

Đồng thời người Kitô hữu, miễn là vẫn giữ việc thờ phượng Thiên Chúa như là đỉnh cao nhất, thì cũng có thể thông dự trong tình đồng bào, đồng loại hoặc tình máu mủ, như việc thờ cúng ông bà. Do đó, hiện nay đã có một sự phân biệt những chữ tôn kính, thờ phượng, thờ kính, tôn thờ với một từ ngữ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa, mà tiếng Việt ta dịch ra nghe hơi không được thanh tao lắm, đó là thờ lạy, tiếng Pháp là adoration. Thành thử trong từ ngữ chung có nghĩa là thờ phượng, tiếng Pháp là culte, rồi ví dụ như thờ kính, vénération, thì Giáo hội Công giáo ngày nay đồng ý rằng, đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đối với anh hùng liệt sĩ, thậm chí đối với các bậc thần linh nào đó, miễn là người Kitô hữu đừng adorer (tôn thờ), còn chữ vénérer (tôn kính) hoặc culte, tức là có một sự tôn kính, một sự phụng thờ nào đó, thì Giáo hội cũng không ngăn cấm, miễn là đừng thể hiện dưới hình thức mê tín dị đoan, chẳng hạn như đốt vàng mã, cầu cơ, bói toán.

Đến đây tôi xin trình bày một ý nghĩ riêng cá nhân tôi. Trong phụng tự Kitô giáo, có thể nói, có một sự thâu gồm nào đó trong Đức Kitô, nghĩa là, những hình thức phụng tự khác, miễn là gạt ra được hết những tính chất mê tín dị đoan, đều được thâu nhận trong Đức Giêsu Kitô để hiến dâng lên Thiên Chúa Cha toàn năng và từ ái, trong một cuộc phụng vụ muôn đời muôn thuở mà trong đó, tất cả những cái gì cao quý, tốt đẹp, dù không đích danh mang hiệu Kitô giáo, đều được đón nhận, được siêu thăng trong chính phụng vụ của Đức Giêsu Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha khi Ngài dâng mình trên cây Thánh giá, đổ đến giọt máu cuối cùng để chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa Cha và đối với nhân loại, đối với vũ trụ này.

Mà bởi vì Ngài cũng là một Ngôi Vị Thiên Chúa, cho nên trong biểu hiện tình yêu bằng cách đổ máu mình ra như thế thì, một mặt, với tư cách là người, Ngài hiến dâng tình yêu lên cho Thiên Chúa, mặt khác, với tư cách là Con Thiên Chúa, thì chính Ngài đem tình yêu Thiên Chúa đến cho vũ trụ và mời gọi toàn thể vũ trụ, toàn thể nhân loại thông dự vào tình yêu muôn đời muôn thuở ấy.

Như vậy, phụng vụ chính là môt bản nhạc tình yêu và vì thế, tôi xin nhắc lại một câu để tóm tắt những trình bày về đời sống phụng vụ đã được đưa ra ở trên, đó là phụng vụ Kitô giáo được hình dung như là tiệc cưới của Con Chiên Thiên Chúa; tiệc cưới mà trong đó sự kết hiệp nên một giữa loài thụ tạo và Đấng Tạo thành giống như sự phối hợp nam nữ giữa trần gian này.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Do đó, Thánh lễ Tạ ơn, Thánh lễ Misa là mẫu mực cho mọi hành vi của Kitô giáo, là nền tảng cho mỗi hành vi của người Kitô hữu, là nguồn mạch của mỗi hành vi người Kitô giáo trong suốt cuộc đời ở trần gian này. Thánh lễ Misa chẳng những thâu gồm toàn bộ đời sống Đức Giêsu Kitô mà còn thâu gồm cả lịch sử Giáo hội, lịch sử nhân loại và diễn trình của vũ trụ từ khai thiên lập địa cho đến ngày Cánh chung, mà đỉnh cao là cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Vì vậy, trong Thánh lễ có một câu: “Chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến". Những chu kỳ phụng vụ trong một năm xoay quanh tâm điểm là tưởng niệm cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. là cả một sự dàn trải ra để người tín hữu chiêm niệm chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được thành tựu trong đời sống của Đức Giêsu Kitô; do đó mà được tổ chức thành những ngày lễ mang tính chất lịch sử như là tái hiện và dự phóng tương lai sắp đến mà trung tâm, như tôi đã nói, là lễ Phục Sinh, hoài niệm, tái diễn mầu nhiệm căn bản của Kitô giáo là mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh, nhưng đồng thời cũng nhắc lại, và một phần nào tái diễn, thời điểm sáng tạo, thời điểm tuyển chọn dân Thiên Chúa, và chính thân thế và sự nghiệp Đức Kitô, giáng sinh, lớn lên, ba năm trời đi rao giảng, chịu khổ nạn và chết trên Thánh giá, sống lại, lên trời rồi vào ngày Ngũ Tuần phái Ngôi Ba Thiên Chúa xuống để soi sáng, dạy dỗ, hướng dẫn và phù trợ dân mới của Thiên Chúa, thiết lập Giáo hội, truyền bá Tin vui cho khắp năm châu bốn bể và còn mô tả, phác họa ngày Cánh chung là khi mà Thiên Chúa trở lại để thu thập, phân biệt thiện ác, gạn lọc tất cả để đưa cái vũ trụ này đến cứu cánh của nó là đi vào chính sự vinh quang của Thiên Chúa muôn đời.

Như vậy, sinh hoạt thần vụ, hoặc là phụng vụ, của Kitô giáo chính là sự sống đức tin của Kitô hữu, một phần nào đó đáp ứng được có thể nói là cái bản năng thờ phượng ở nơi bất cứ con người nào, cái mầm mống hoặc là cái tập sự, cái chuẩn bị cho phụng vụ Kitô giáo được chính Thiên Chúa giao cho dân Do Thái. Nói rộng hơn, có thể nói cái nhu cầu thờ phượng ấy là một nhu cầu thiết yếu của tâm hồn con người, cho nên phần nào đã manh nha trong bất cứ tôn giáo nào khác, dưới những hình thức phụng vụ khác nhau, đương nhiên có lẫn lộn này nọ, nhưng xét vê một phương diện nào đó, đều cũng có một giá trị nhất định.

Vì vậy, tuy trong thực tế đôi khi Giáo hội Công giáo chặt chẽ, khắt khe, sợ tín hữu pha trộn, lẫn lộn ít nhiều với hình thức thờ phượng tôn giáo ngoài Công giáo; nhưng trong thâm tâm, không phải là lên án một cách triệt để, trái lại, vẫn nhìn thấy trong tất cả các hình thức phụng vụ của các tôn giáo khác như một mầm mống phác họa, thu thập nào đó - như tôi đã nói ở trên - mà bất cứ con người nào cũng có xu hướng chung chung muốn thể hiện.

Như vậy, đối với cái nhìn của người Kitô hữu, phụng vụ Kitô giáo là sự hoàn tất chính cái nhu cầu tôn giáo, nhu cầu thờ phượng đã được Thiên Chúa in sâu vào lòng người, mà các tôn giáo khác, các hình thức phụng vụ khác, tuy chưa được ưu việt, nhưng cũng có một ít khía cạnh tích cực; cách riêng là đối với những dân tộc chưa được may mắn đón nhận Tin vui.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Vậy, có thể nói tất cả chỉ tóm tắt vào một bài kinh mà người Công giáo gọi là Kinh Sáng Danh: "Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước muôn đời và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”. Do đó, đời sống thờ phượng của Kitô giáo, ngay ở trần gian này, chỉ là sống trước cuộc sống vĩnh cửu mai sau mà thôi.

Và nếu hỏi cứu cánh của mỗi một con người, của nhân loại, của vũ trụ này là gì, thì xin trả lời đó là cuộc đi đến phụng vụ muôn đời không dứt ở Thiên đàng, mà Thiên đàng ở đây không hiểu theo nghĩa một thế giới mông lung nào đó, nhưng là chính cái vũ trụ này, sau khi đã hoàn tất, lại trở về nơi nguồn phát tích của mình là cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi Cha, Con và Thánh Thần hằng hữu, hằng yêu mến muôn thuở muôn đời.

Vâng, quả đúng như câu kết thúc Tin mừng theo thánh Luca, người tín hữu hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa. Ở đây Đền thờ là chính cả vũ trụ này; còn hằng, nghĩa là luôn luôn. Giây phút nào cũng vậy, do đó, mọi sinh hoạt trần gian, nếu được thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, đều trở nên những việc thờ phượng Thiên Chúa, từ việc lao động để kiếm cơm ăn áo mặc, từ việc vợ chồng trao xương gửi thịt cho đến tất cả những sinh hoạt trên trần thế này, thảy đều là những việc thờ phượng Thiên Chúa như thánh Phaolô đã dạy: "Anh em hãy làm mọi việc vì vinh danh Thiên Chúa" (Cr 10,31-11,1).

Vì vậy, người tín hữu Kitô giáo không phải là tìm sự siêu thoát để thoát khỏi cái nợ đời này, để sống chơi vơi trong một chân trời huyền ảo nào, nhưng người Kitô hữu, dù là quét nhà, thậm chí dù là chỉ huy ngoài trận mạc để chiến đấu cho công bằng, bác ái, đều là làm việc thờ phượng, làm với hết cả tâm hồn mình Đó là ý nghĩa được thánh Gioan Thánh giá, một vị thần nhiệm học có thể nói là số một của Kitô giáo, đã nói rằng: "Dù nhặt một cây kim với tất cả tình yêu Thiên Chúa, thì vẫn có giá trị hơn tất cả sự nghiệp lẫy lừng được thực hiện với một phong cách phàm tục".

Từ đó, chúng ta đi đến kết luận như sau: Việc thờ phượng Thiên Chúa chẳng những không cản trở đối với cuộc sống trần gian, nhưng chính đời sống phụng vụ, một mặt, đem lại ý nghĩa cho mọi sinh hoạt trần gian, một mặt giúp cho tín hữu Kitô giáo khi làm những việc trần gian, từ việc nhỏ nhất như nhặt một cây kim cho đến những sự nghiệp lẫy lừng, có thể nói là làm với tất cả tâm hôn mình y như là thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ vậy. Được như thế thì quả thật, bản thân mỗi người là một Đền thánh, xã hội là một Đền thánh, Giáo hội là một Đền thánh, vũ trụ là một Đền thánh, mà mọi việc đều có tính cách phụng tự, thì phải làm với hết lòng, hết sức, hết cả tâm trí trong tình yêu Thiên Chúa và tình thương yêu đồng loại.

Và cũng trong cái tinh thần đó, một nhà thuyết giáo đã nói rằng, trên trần gian này, nơi linh thiêng nhất chính là bàn thờ mà hằng ngày Ngôi Hai Thiên Chúa ngự xuống trong phép Thánh Thể và thứ hai là chiếc giường hợp cẩn, nơi mà các cặp vợ chồngg trao xương gửi thịt với nhau. Thờ phượng Thiên Chúa không phải là rũ sạch bụi trần để bay lên một chân trời nào đó, nhưng là làm mọi việc với một tinh thần thờ phượng, tôi xin nhắc lại, từ việc nhỏ là nhặt một cây kim cho đến việc kinh bang tế thế. Một khi đã thấm nhuần trong tinh thần phụng vụ như thế, thì mọi việc ở trần gian đều có một giá trị thiêng liêng cao cả mà hầu như đòi hỏi con người phải tận hiến hết mình để làm cho trọn vẹn đầy đủ, đạt đến mức hoàn hảo như chính lời Đức Chúa Giêsu đã nói: “Các con hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,43-48). Như thế, sự hoàn thiện Kitô giáo được thể hiện ngay trong những việc tầm thường nhất của cuộc đời eo sèo này, chứ không phải chỉ riêng việc phụng thờ mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Giả như con người không phạm tội và vẫn giữ được vẻ nguyên trinh ban đầu, thì việc thờ phượng Thiên Chúa vẫn xảy ra, bởi vì chúng ta còn bước lên một bước cao hơn nữa và, nếu tin rằng mọi sự đều do Thiên Chúa mà ra, đương nhiên con người vẫn có một tâm tình ca tụng, ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành ở trần gian này. Do đó Thánh lễ hằng ngày dâng lên chí là Lễ Tạ ơn.

Tạ ơn ở đây không phải là một sự nịnh hót, nhưng là một cách biểu lộ lòng tri ân, một tình cảm cao quý ở nơi con người, vì chính chúng ta cũng thường chê trách những kẻ vô ơn bất nghĩa. Tạ ơn là một nhu cầu của bất cứ người con nào có lòng hiếu thảo đối với cha, bất cứ một người mang ơn nào đối với người đã thi ân cho mình. Chẳng phải chúng ta vẫn thường kinh chê những kẻ ăn cháo đá bát đó ư? Tạ ơn Thiên Chúa không phải để xu nịnh Ngài, nhưng là biểu lộ một chiều kích khác thường bên trong tâm hồn con người vốn biết ơn nghĩa. Ngợi khen Thiên Chúa thật ra cũng chẳng khác gì khi chúng ta khen ngợi một bức tranh đẹp, ca tụng một vở kịch hay, một bản hòa tấu tuyệt diệu và, nếu tin rằng vũ trụ này được tạo dựng bởi một Đấng chí ái toàn năng, thì việc ca tụng Thiên Chúa chính là biểu lộ một sự thông minh sáng suốt của một người biết đánh giá đúng một kiệt tác của nhà nghệ sĩ tuyệt vời, là Đấng tạo thành muôn vật mà chính Ngài sau khi tạo thành cũng đã khen mọi sự tốt lành.

Tuy nhiên, đời sống phụng tự của Kitô giáo không chỉ dừng lại ở đấy, song còn tiến lên đến bậc cao hơn, một đỉnh cao chót vót. Như tôi đã trình bày ở trên kia, Thánh lễ, chúng tôi gọi là Thánh lễ Tạ ơn hoặc Thánh lễ Misa, mà hằng ngày Giáo hội, qua tay các linh mục, dâng trên bàn thờ và người giáo hữu phải tham dự ít nhất mỗi tuần một lần vào ngày Chúa nhật, chính là tiếp diễn thân thế và sự nghiệp Đức Giêsu Kitô, mà thân thế và sự nghiệp ấy chính là sự kết hiệp nên một giữa Thiên Chúa và con người, thường được các nhà thần học hình dung là một kết hợp hôn phối, vợ chồng trao xương gửi thịt cho nhau.

Sau này chúng ta sẽ thấy điều đó được thể hiện ở nơi Đức Giêsu Kitô rồi sẽ được phổ quát nơi bất cứ tín hữu nào trong việc rước Mình thánh Chúa, được kết hiệp nên một với Ngài, nên một với nhau trong hiệp thông tham dự với chính Máu và Thịt của Ngài đã ký thác cho Giáo hội trong Bí tích Thánh thể. Do đó, việc lên rước lễ, nôm na gọi là lên ăn bánh thánh, được gọi là tham dự tiệc cưới của Con Chiên Thiên Chúa; sau nữa, việc dự Thánh lễ được mô tả trong đoạn Tin mừng tôi đã nhắc đến ở trên kia: "Họ đã trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa" (Lc 24,52-53).

Vì vậy, các nhà thờ Kitô giáo, từ những nguyện đường nghèo hèn mái tranh, mái tôn cho đến những Vương Cung Thánh Đường nguy nga, đồ sộ trên khắp thế giới chính là bối cảnh để cho người Kitô giáo sống đời sống đức tin của mình. Như tôi đã nói trên kia, đời sống đức tin ẵm nhận lấy cuộc sống của con người ở trần gian này ngay trong hiện tại thâu gồm, thể hiện những chờ đợi, ước mong trong quá khứ và hướng về tương lai vào ngày Cánh chung. Hằng ở trong Đền Thờ, nghĩa là không phút giây nào là không ở trong Đền Thờ. Do đó. những đền thờ, nhà thờ, thánh đường của Kitô giáo ở khắp nơi, chẳng qua chỉ là hình ảnh biểu lộ một ý tưởng sâu xa: mỗi một thụ tạo, từ vật chất vô cơ cho lên đến tinh thần, tâm linh của một con người, toàn thể vũ trụ này thực ra là một Đền Thờ duy nhất, mà trong đó toàn thể loài thụ tạo cảm tạ, chúc tụng Thiên Chúa Tạo Hóa, kết hợp làm một với Ngài trong Đức Giêsu Kitô. Nơi đền thờ vũ trụ ấy, bí tích dấu chỉ của Chúa Giêsu Kitô là Giáo hội Công giáo vẫn hằng giây hằng phút, chẳng những hướng lòng về Thiên Chúa, nhưng thực sự đã kết hiệp nên một với Ngài trong Đức Kitô là một Ngôi Vị Thiên Chúa đã đến trở nên một với loài thụ tạo trong thân xác con người Giêsu Nazareth, sinh bởi Đức bà Maria. Với sự kết hợp ấy, Ngài đã thâu gồm trong chính bản thân Ngài toàn thể vũ trụ này, ẵm nhận lấy tất cả không gian và thời gian đế trở nên một của lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Nói là dâng lên, nhưng kỳ thực là đón nhận với lời cám tạ và trở về với chính cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi dìu dặt tình yêu muôn thuở muôn đời. Như vậy, sau khi thời gian này chấm dứt, nghĩa là đến ngày Cánh chung, toàn thể vũ trụ này sẽ chẳng là gì khác hơn là một cuộc phụng vụ muôn đời muôn thuở mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo

Sau đây tôi mạn phép trình bày với các anh chị về đời sổng thờ phượng trong Kitô giáo. Hễ đã nói đến tôn giáo, thì tất nhiên sinh hoạt tế tự thờ phượng là chính yếu và bất cứ tôn giáo nào cũng vậy. Trong đời sống của dân Do Thái, có thể nói toàn bộ cuộc sống của dân Do Thái được tổ chức chung quanh Đền Thánh Giêrusalem. Đền Thánh Giêrusalem là nơi mà ngày đêm các tư tế thay phiên nhau lần lượt dâng lên Thiên Chúa những của lễ hy tế. Nhiều khi đọc Cựu ước, tôi có cảm tưởng mình bị ngộp do những làn hương được liên lỉ xông lên và không khỏi một phần nào hơi ớn ngấy với những vật hy tế chiên, bò, bồ câu đổ máu ra để hiến dâng Thiên Chúa.

Theo các nhà chú giải Kinh thánh và các nhà thần học, các lễ vật hy tế đổ máu ra đấy là phác họa, là hình bóng chuẩn bị cho cuộc hy sinh thực của Giêsu Nazareth cũng sẽ đổ đến giọt máu cuối cùng trên Thánh giá mà Giáo hội Kitô giáo vẫn tiếp tục trong Thánh lễ hiến dâng hằng ngày, và các giáo hữu có bổn phậm tham dự ít nhất mỗi tuần một lần vào ngày Chúa nhật.

Tôn giáo nào cũng có những nghi lễ hiến dâng lên thần linh những của lễ. Việc hiến dâng của lễ như thế mang nhiều ý nghĩa mà hẳn là các vị giáo sư chuyên về các tôn giáo cổ sơ đã nhiều lần trình bày cho các anh chị. Có thể có những của lễ kiểu như một dạng đút lót để cầu cạnh ơn này ơn no, từ ơn xin cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt đẹp, xin cho được bình an, xin cho thoát khỏi tai ương cho đến những ơn giống như trong một bài hát mà chắc anh chị đã từng nghe: "Con quỳ lạy Chúa trên trời/ Sao cho con lấy được người con yêu".

Tất cả những điều đó thì cũng dễ hiểu thôi, vì với thân phận con người sống ở trần gian này, lúc nào chúng ta cũng bị không biết bao nhiêu chuyện chẳng lành uy hiếp dưới mọi dạng và mong muốn có được một cuộc sống an bình, hạnh phúc, cầu xin cho được thoát khỏi bão lụt hoặc thoát khỏi sự đe dọa của một cuộc chiến tranh nguyên tử có nguy cơ đưa cả nhân loại vào chỗ diệt vong, theo tôi nghĩ, cũng là thường tình, không phải là không có một ý nghĩa nào đó.

Tuy nhiên, ngay trong các tôn giáo khác, việc hy tế hay cầu xin không chỉ ngừng lại ở những chuyện ấy, nhưng dần dần có một sự thăng hoa, và cái thăng hoa thứ nhất là một lễ đền tạ: con người bất luận là ai thì lúc nào cũng ý thức mình thường hay vi phạm những quy tắc đạo đức, xúc phạm đến tha nhân, gây ra sự xáo trộn trong đời sống xã hội, thậm chí cả trong trật tự thiên nhiên, từ đó việc thờ cúng mang một ý nghĩa là bày tỏ sự ăn năn hối cải của mình và đền tạ để xin ơn trên giúp mình trở lại với cuộc sống lành mạnh, thánh thiện theo đúng như phẩm giá con người, để tu chỉnh bản thân, vãn hồi trật tự cho xã hội, đem lại sự hài hòa cho cả vũ trụ.

Lý tưởng đó được thâu gồm trong hình ảnh Đức Chúa Giêsu được mô tả như là Con Chiên hy tế, gánh tội thiên hạ. Chẳng phải Thượng Đế, Đấng chí tôn hoặc là Thiên Chúa là một vị thần khát máu, nhưng đó là một nhu cầu chân chính của tâm hồn con người, phạm tội thì phải đền tội một cách tương xứng. Thiên Chúa là Đấng chí thánh, Ngài không thể bao che những hành vi vi phạm những nguyên tắc căn bản của đời sống con người, cá nhân cũng như xã hội. Sự khao khát được đền tạ biểu lộ nơi xu hướng con người là quy tắc đạo đức phải được tôn trọng và bảo vệ, nếu vi phạm thì phải có một sự đền bồi tương xứng và phải có một sự vãn hồi để trật tự được duy trì và phát triển.

Thiên Chúa là Cha từ bi, từ ái, bao dung nhưng không thể bao che. Trong đức tin Kitô giáo, việc đền tạ không chỉ mang một ý nghĩa tinh thần về luân lý mà thôi, - sau này tôi sẽ nói rõ hơn trong phần về các bí tích - còn có một chiều kích là tái tạo lại ngay trong bình diện hữu thể, tương tự như hình ảnh tôi đã dùng về việc biến một chất kim loại bị hoen rỉ (vì tội lỗi) trở về lại cái uyên nguyên, cái tinh tuyền ban đầu, như vậy mới kết hợp được với Thiên Chúa là Đấng chí thánh, chí thiện vốn không thể nào a tòng, bao che, thỏa hiệp với sự ác, sự dữ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

1. Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người (tiếp theo)

Mình và Máu nơi bí tích này không phải như một chất liệu trơ lì, nhưng là một nguồn sống dồi dào; nguồn sống ấy vẫn tiếp tục chức năng cứu thế của Ngài, nghĩa là một mặt, hiến dâng lên Chúa Cha, đáp lại tình yêu của Ngài, một mặt trao ban chính tình yêu của Ngài, mở rộng, mời gọi, chào đón bất cứ con người nào nhận lời đi vào thông hiệp, và chi phối trực tiếp trong mọi sinh hoạt của con người, từ việc kiếm miếng cơm manh áo, chăn gối vợ chồng cho đến mọi sinh hoạt khác như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và nếu cần, cả trong hoạt động chiến đấu, trong những trường hợp phải dùng đến bạo lực để tranh đấu cho hòa bình, công bằng, bác ái. Như thế, người Kitô hữu đồng hành với mọi người, bất cứ ở nơi nào, bất cứ vào thời nào và sống như mọi người nhưng đem lại cho cuộc đời trần thế này một ý nghĩa đặc biệt, ý nghĩa trong đời sống Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người, ở cùng nhân loại cho đến ngày tận thế.

Chữ "ở cùng" có lẽ quá yếu, nhưng là cùng sinh ra, cùng lớn lên, cùng lao động, cùng vui buồn, cùng đau khổ, cùng chết như bất cứ con người nào ở trần gian này, nhưng để rồi ẳm nhận tất cả, sống lại, lên trời, nghĩa là tiến lên một cấp siêu thăng của một con người toàn diện gồm có Chúa, vật chất, tinh thần, tâm lý, tâm linh, con người cá nhân cũng như con người tập thể cộng đoàn cùng với hết thảy mọi sinh hoạt ở đời này, và đồng thời ẵm nhận luôn cả vũ trụ vật chất này, là nơi mà chính thân xác và hoạt động trần thế cắm sâu vào tận lòng trái đất.

Động cơ cuối cùng của tất cả những điều ấy là tình yêu. Thiên Chúa chính là tình yêu, mà tình yêu đây là tình yêu của một Ngôi Vị Thiên Chúa được Đức Chúa Giêsu hứa hẹn sẽ gửi xuống an ủi, dạy dỗ, nâng đỡ, hướng dẫn và giúp cho các môn đệ của Ngài hiểu hết và đủ sức thực hiện những lời Ngài dạy, tức là thực hiện chính sự nghiệp mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho Ngài và các môn đệ của Ngài.

Tình yêu này, đứng về một mặt, như là một thần lực, nhưng một mặt, thần lực ấy không chỉ là một khả năng hoạt động mà còn được hiểu, được tin, được biết như là có ngã vị tính, nên gọi là Ngôi Ba Thiên Chúa, hoặc là Chúa Thánh Thần, Thánh Linh hay là Thần Khí.

Chính Chúa Thánh Thần giúp các môn đệ tin nhận mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất cũng là Thiên Chúa Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Trong giai đoạn đầu, bởi vì nhóm môn đệ tiên khởi tưởng rằng giờ quang lâm sẽ đến trong một sớm một chiều, nên có thể nói, phần lớn thời giờ, ngoài những hoạt động cần thiết cho cuộc sống bình thường, họ cùng nhau tụ tập lại để sống đời sống phụng vụ, cụ thể là đời sống bí tích đó. Các sinh hoạt hồi ấy được tóm tắt trong Công vụ tông đồ như sau: họ chuyên cần với các giáo huấn của các tông đồ, cùng hiệp thông trong việc bẻ bánh và các kinh nguyện, và như đã tóm tắt trong câu kết thúc Tin mừng theo thánh Luca: "Họ đã trở lại Giêrusaỉem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa" (Lc 24,52-53).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

1. Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người (tiếp theo)

Đó chính là trung tâm sinh hoạt phụng vụ của Kitô giáo. Sinh hoạt phụng vụ của Kitô giáo đương nhiên là một sinh hoạt thờ phượng như bất cứ sinh hoạt thờ phượng của tôn giáo nào, nhưng không phải đơn thuần chỉ là một sinh hoạt thờ phượng, mà như tôi đã nói trên kia, đó còn là cái nơi để người tín hữu đến nghe lời giảng dạy của Đức Chúa Giêsu Kitô đã được ghi chép lại trong bốn quyển Tin mừng, và để thông dự vào Bí tích Thánh Thể, nghĩa là đón nhận chính mình Ngài, sống như Ngài, tiếp tục thân thế và sự nghiệp của Ngài

Trong mọi thời điểm, tại bất cứ địa phương nào, trở nên nguồn mạch cứu độ và thánh hóa dành cho bản thân, cho nhân loại và cho cả vũ trụ. Như thế, các Kitô hữu, một mặt, đồng hành với nhân loại, gánh vác thân phận làm người với tất cả những trách nhiệm, những sự nghiệp ờ trần gian, nhưng một mặt cũng chờ đợi ngày thời gian chấm dứt, lúc đó, theo một cách nói, Đức chúa Giêsu có thể từ trời mà xuổng, gọi là Ngày Quang làm. Một mặt khác nữa, cũng có thể nói là ngày Ngài tỏ mình ra khi vén lên tấm màn của trần thế này đang che lấp một thực tại hiện vẫn tiếp diễn và tiến tới ngày thành tựu.

Chữ Quang lâm hiểu theo nghĩa đen là ngự đến trong vinh quang, gợi lên hình ảnh một di chuyển trong không gian, nhưng thực chất không phải vậy, mà chỉ là mở ra cho thấy chiều kích siêu việt của chính cái thực tại hiện đang từng giây từng phút vẫn tiếp diễn trong đời sống mỗi một giáo hữu, trong đời sống từng cộng đoàn nhỏ các Kitô hữu cho đến cộng đoàn phổ quát là toàn thể Giáo hội Kitô giáo có mặt khắp nơi, và tiếp tục mãi trong từng giây phút cho đến ngày Cánh chung.

Như vậy, sinh hoạt phụng tự là sinh hoạt chính, căn bản, nguồn mạch của đời sống Kitô hữu ở trần gian này, vì đó không chỉ là một nghi thức thờ phượng mà thôi, nhưng đó còn là nơi, một mặt, con người đến dâng hiến chính mình cho Đức Giê su Kitô, đón nhận sự sống của Ngài, trao đổi với với nhau trong một bữa tiệc liên hoan, được gọi là tiệc cưới Con Chiên Thiên Chúa, để dự phần vào cuộc sống thần linh được Ngài ban cho, rồi từ đó ra đi chu toàn nhiệm vụ của thân phận con người trong thời gian, đem lại cho mọi sinh hoạt của mình, tuy bề ngoài chẳng khác bất cứ con người nào, nhưng bề trong mang một ý nghĩa, một chiều kích, một cứu cánh đã được thực hiện nơi chính Đức Chúa Giêsu Kitô. Và có thể nói các sinh hoạt trần gian chỉ là hoa quả, kết quả của chính cái sinh hoạt phụng vụ, hoặc nói đúng hơn, là cuộc sống bí tích ấy.

Cuộc sống bí tích ấy không phải chỉ là một phương tiện nhằm giúp các Kitô hữu thực hiện đời sống đạo đức mà thôi, nhưng còn chính là đón nhận sự tác động của Thiên Chúa toàn năng, gần như có một sự biến đổi ngay trong hữu thể tính của con người, vì con người phàm trần, khi thông dự vào đời sống bí tích, có thể nói là được biến đổi thành như Chúa Giêsu Kitô, tức là thông dự mật thiết, kết hợp với thân tính của Ngôi Hai Thiên Chúa, đi vào chính trong đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, thực sự thể hiện lời Đức Giêsu Kitô đã nói: “Chúng ta - tức là Thiên Chúa Ba Ngôi - sẽ đến ở trong các con và các con ở trong Ta, để các con nên một với nhau, các con nên một với Ta như Ta nên một với các con cũng như Ta nên một với Cha Ta." Chữ nên một này không phải chỉ có nghĩa nên một trong tinh thần, nên một trong lý tưởng, mà là nên một chính trong hữu thể thực sự, gồm toàn diện con người có thể chất, có tâm lý, có tinh thần và có tâm linh. Nếu trong việc giáng thế làm người, Ngôi vị Thiên Chúa biến thành con người thật, thì trong việc thông dự phụng vụ bí tích, con người cũng thông dự thật vào Thiên Chúa qua trung gian của ngã vị Ngôi Hai đã xuống thế làm người trong Giêsu Nazareth nay được tiếp diễn, được phổ quát hóa trong Bí tích Thánh Thể.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.