Những ca khúc giữa linh hồn và Đấng Chí Ái
SƠ LƯỢC
1 - Những ca khúc này mô tả con đường của một linh hồn từ lúc bắt đầu phụng sự Thiên Chúa cho đến khi đạt tới tình trạng hoàn thiện là cuộc linh phối. Như thế, chúng sẽ đề cập tới ba trạng thái hay còn gọi là ba con đường của cuộc thao luyện tâm linh mà linh hồn sẽ trải qua, cho đến khi đạt tới tình trạng hoàn thiện, đó là đường thanh tẩy, đường khải thị và đường hiệp nhất; đồng thời chúng cũng nêu rõ một số đặc tính và hiệu quả của mỗi con đường ấy.
2 - Những ca khúc đầu tiên bàn về tình trạng của những người mới bắt đầu, tức là con đường thanh tẩy. Tiếp đến là những ca khúc bàn về tình trạng của người đã tiến khá xa, nơi xảy ra cuộc hứa hôn tâm linh, đó là con đường khải thị. Và sau cùng là những ca khúc diễn tả con đường hiệp nhất, con đường của những người hoàn thiện, nơi diễn ra cuộc linh phối giữa Thiên Chúa và linh hồn. Con đường hiệp nhất và cũng là con đường của những người hoàn thiện tiếp theo sau con đường khải thị là con đường của những người đã tiến khá xa.
Những ca khúc cuối bàn đến tình trạng diễm phúc, điều duy nhất mà một linh hồn đã đạt đến hoàn thiện hằng khao khát.
Giờ đây bắt đầu minh giải những Ca khúc Tình yêu giữa Tình nương và Đức Kitô, Tân lang.
*** *** ***
CA KHÚC 1
+ Ghi chú mở đầu
1 - Mở đầu ca khúc này, linh hồn ý thức về các bổn phận của mình, và nhận ra rằng đời sống quả là ngắn ngủi (x. G 14,5), đường dẫn đến sự sống đời đời thật hẹp (x. Mt 7,14), người công chính phải nhọc công mới cứu rỗi được mình (x. 1Pr 4,18), của cải trần gian này là hư vô và giả dối (x. 1Cr 7,31), mọi thứ rồi cũng kết thúc và cuốn trôi như dòng nước chảy xuôi (x. 2Sm 14,14), sống chết chẳng biết khi nào, sự phán xét thật nghiêm nhặt, sự hư mất thật dễ dàng, ơn cứu rỗi thật khó khăn. Đàng khác, linh hồn nhận ra món nợ lớn lao nó mắc với Thiên Chúa: Ngài đã tạo dựng nên nó riêng cho một mình Ngài, cho nên, nó có bổn phận phụng sự Ngài trọn đời; Ngài đã chuộc lại nó cho một mình Ngài, cho nên rõ ràng tất cả những gì còn lại cho nó đều là mắc nợ Ngài, và vì thế nó phải đem hết lòng hết dạ mến yêu mà đền đáp. Linh hồn nhận ra rằng, ngay cả trước khi chào đời, nó đã mắc nợ Thiên Chúa cả ngàn hồng ân khác, thế mà nó đã điên rồ để cho một phần lớn cuộc đời mình thành vô nghĩa. Nó biết rằng, khi Thiên Chúa cầm đèn lục soát Giêrusalem (x. Xp 1,12), nó sẽ phải tính sổ về mọi thứ, từ đầu đến cuối, cho đến tận đồng xu cuối cùng (x. Mt 5,26). Và lúc ấy thì đã muộn, có lẽ ngày đã điểm giờ cuối cùng (x. Lc 24,29; Mt 20,6), không còn kịp cứu chữa sự xấu xa và tai hại ngần ấy. Nhất là linh hồn cảm thấy Thiên Chúa như hết sức thịnh nộ và ẩn mặt bởi vì nó đã cố tình lãng quên Ngài đến thế ngay giữa các loài thụ tạo. Lòng đầy sợ hãi và đau đớn về những sự hư mất và hiểm nguy đến thế, linh hồn từ bỏ mọi sự, bỏ qua một bên mọi công việc, không chậm trễ một ngày một giờ nào, với nỗi khắc khoải và tiếng kêu rên thốt lên từ trái tim đã bị thương vì tình yêu Thiên Chúa, linh hồn bắt đầu khẩn khoản ngỏ lời với Đấng Chí Ái:
Người ẩn nơi nao, hỡi Đấng Chí Ái,
Mà bỏ em rên rỉ?
Như một con nai, Người trốn biệt,
Sau khi đã làm cho em bị thương,
Em chạy ra, gọi vói theo Người, thì Người đã đi.
+ Minh giải
2 - Trong ca khúc đầu tiên này, ta thấy linh hồn đắm say Lang quân của nó là Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, và đang khao khát hiệp nhất với Ngài, để được nhìn thấy Ngài thật rõ đúng theo yếu tính Ngài. Nó giãi bày nỗi khắc khoải yêu thương của nó và than phiền với Đức Lang quân về nỗi Ngài vắng mặt, nhất là sau khi tình yêu Ngài đã khiến nó bị thương. Vì tình yêu ấy, nó đã thoát khỏi mọi sự và ra khỏi cả chính mình, nhưng đau đớn thay, Đấng Chí Ái vẫn vắng mặt, không chịu giải thoát nó khỏi xác thịt mau chết để nó có thể hưởng nếm Ngài trong vinh quang vĩnh cửu. Vì thế, nó thốt lên:
Người ẩn nơi nao, hỡi Đấng Chí Ái?
3 - Linh hồn như thể muốn nói: Ôi Ngôi Lời, Đức Lang quân của em, xin cho em biết Người đang ẩn nấp nơi nao. Qua lời ấy, linh hồn nài xin Ngôi Lời biểu lộ yếu tính thần linh của Ngài, vì theo lời thánh Gioan (x. Ga 1,18), nơi Ngôi Lời ẩn náu chính là cõi lòng Thiên Chúa Cha, tức yếu tính Thiên Chúa. Yếu tính này xa lạ đối với mọi mắt phàm và ẩn khuất đối với mọi trí hiểu loài người. Đúng như điều Isaia muốn nói khi thưa với Thiên Chúa: Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình (Is 45,15).
Do đó cần ghi nhớ rằng dù những sự thông truyền và những kinh nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa có lớn lao đến đâu và dù các nhận thức về Thiên Chúa mà một linh hồn có được trong cuộc sống dương trần này có cao vời đến mấy thì đó cũng vẫn không phải là Thiên Chúa tự yếu tính, vẫn không thể sánh ví với Ngài, bởi quả thực, đối với linh hồn, Thiên Chúa luôn luôn ẩn khuất. Thế nên, vượt trên tất cả những lớn lao cao vời ấy, linh hồn cần luôn coi Ngài là Đấng ẩn mặt và tìm kiếm Ngài như tìm kiếm một ai đó đang ẩn nấp, và thốt lên: Người ẩn nơi nao?
Cả sự thông truyền cao diệu lẫn những kinh nghiệm về sự gần gũi cảm thấy được của Thiên Chúa vẫn không phải là bằng chứng chắc chắn về sự hiện diện ưu ái của Ngài nơi linh hồn; ngược lại, sự khô khan hay thiếu vắng tất cả những điều nói trên cũng không phải là dấu chỉ Ngài vắng mặt, không có ở đó. Vì thế ông Gióp, một vị ngôn sứ, đã kêu lên: Nếu Thiên Chúa có đến cùng tôi, tôi cũng chẳng trông thấy Ngài, mà nếu Ngài có đi khỏi, thì tôi cũng chẳng nhận ra (x. G 9,11).
- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)


0 nhận xét:
Đăng nhận xét