NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)
CA KHÚC THỨ BA (tiếp theo)
33. Do đó vào thời điểm này, linh hồn phải được hướng dẫn theo một cách ngược hẳn với cách được hướng dẫn lúc ban đầu. Nếu trước đây người ta vẫn cung cấp cho linh hồn chất liệu để suy niệm và nó đã suy niệm thì giờ đây cần phải loại bỏ các chất liệu ấy và linh hồn nên ngưng suy niệm, bởi như tôi đã nói, dù có muốn linh hồn vẫn không thể suy niệm và mỗi lần tìm cách lắng lòng, lại bị lo ra chia trí. Nếu trước đây linh hồn thường tìm kiếm hương vị, tình yêu, nhiệt tình và đã gặp được thì giờ đây nó chẳng còn muốn cũng chẳng còn tìm những thứ ấy bởi lẽ có chăm chú tìm cũng không được, trái lại chỉ gặp phải khô khan. Nếu cứ theo đuổi mọi việc qua giác quan, linh hồn sẽ đánh mất tình trạng tốt lành bình an thanh tịnh đã được kín đáo gieo vào tâm linh nó. Như thế là mất cả chì lẫn chài vì giờ đây các ơn lành không còn được ban tặng cho linh hồn qua giác quan như trước nữa. Vì thế, khi linh hồn đã ở vào tình trạng này, không được bắt nó phải suy niệm hoặc thực hiện các hành vi này nọ, hoặc tìm kiếm hương thơm vị ngọt hay sự sốt sắng nhiệt tình, bởi lẽ như thế sẽ gây trở ngại cho tác nhân chủ yếu là chính Thiên Chúa. Lúc này Thiên Chúa đang kín đáo và lặng lẽ trút vào linh hồn sự khôn ngoan và nhận thức trìu mến mà không dùng tới những hành động cụ thể, mặc dù, đôi khi Ngài cũng thực hiện cho linh hồn một số hành động ấy trong một khoảng thời gian nào đó. Như thế, giờ đây linh hồn chỉ phải làm một việc duy nhất là chú tâm trìu mến vào Thiên Chúa chứ không thực hiện một hành vi đặc thù nào khác, nghĩa là, như chúng tôi đã nói, linh hồn hãy cứ thụ động, đừng hoài công cố gắng bằng sức riêng nhưng hãy cứ kiên trì chú tâm trìu mến một cách đơn sơ giản dị tựa như một người đang chú tâm yêu thương mở mắt ra mà nhìn.
34. Như thế bởi vì Thiên Chúa, khi cho, đã cho qua một thông tin đơn giản trìu mến, thì đến lượt nó, khi nhận, linh hồn cũng phải nhận bằng một nhận thức và chú tâm đơn giản đầy trìu mến, có thế sự hiểu biết của đôi bên mới hoà được với nhau và tình yêu đôi bên mới hợp được với nhau. Quả vậy, muốn nhận điều gì, ta phải xử sự hợp với điều ta nhận chứ không được theo một cách nào khác, có thế ta mới có thể nhận được và giữ được điều ấy đúng như nó đã được trao cho ta. Thật vậy, theo triết học, vật gì được nhận đều được nhận theo cách thức của phía tiếp nhận nó.
Như thế rõ ràng lúc này, nếu linh hồn không từ bỏ cách ứng xử chủ động tự nhiên thì sẽ chỉ nhận được ơn nói trên theo cách tự nhiên mà thôi. Và như vậy thì thật ra linh hồn chẳng nhận được ơn ấy mà chỉ loay hoay với công việc tự nhiên của nó, bởi lẽ điều siêu nhiên không thể được tiếp nhận theo cách tự nhiên và nó cũng chẳng liên quan gì đến thể cách tự nhiên ấy. Vậy vào lúc này nếu linh hồn cứ muốn tự mình hành động một cách nào khác, không chịu thụ động chú tâm trìu mến như chúng tôi đã nói, không chịu hết sức thụ động và lặng lẽ mà còn thực hiện bất cứ một hành vi tự nhiên nào - trừ khi chính Thiên Chúa muốn hiệp nhất với linh hồn nơi một hành vi nào đó - thì linh hồn sẽ gây trở ngại cho những ơn lành Thiên Chúa đang thông truyền cho nó một cách siêu nhiên qua một nhận thức đầy yêu thương trìu mến. Sự thông truyền ấy lúc đầu được thực hiện qua sự thanh luyện nội tâm mà linh hồn phải trải qua như chúng tôi đã bàn, và tiếp đến được thực hiện qua sự dịu ngọt của tình yêu.
Như tôi đã nói và quả thật là thế, nếu nhận thức trìu mến ấy đã được tiếp nhận cách thụ động nơi linh hồn theo cách siêu nhiên của Thiên Chúa chứ không theo cách tự nhiên của linh hồn, thì để tiếp nhận được nó, hẳn là các hoạt động tự nhiên của linh hồn đã phải hết sức bị hư vô hóa, linh hồn đã phải siêu thoát, thư thái, lặng lẽ, an bình và thanh sáng theo cách của Thiên Chúa. Cũng tựa như không khí, càng tinh tuyền không vướng hơi nước, càng đơn thuần và yên ắng thì càng được mặt trời chiếu sáng và sưởi ấm. Vì lẽ đó, linh hồn không được quyến luyến một thứ gì: không được thực hành nguyện gẫm hay suy luận hoặc theo đuổi hương thơm vị ngọt nào thuộc lãnh vực khả giác hoặc tâm linh, hoặc bất cứ sự tiếp thu lãnh hội nào khác. Bởi lẽ bất cứ tư tưởng, suy luận hay thích thú nào mà linh hồn thích bám víu vào cũng đều khiến linh hồn bị cản trở, bị mất yên tĩnh, bị náo động, mất sự thinh lặng thâm sâu mà linh hồn cần có về mặt giác quan lẫn tâm linh. Tâm linh cần phải được hết sức tự do, không vướng mắc bất cứ điều gì thì mới có thể nghe được tiếng nói thâm sâu và tế nhị như lời ngôn sứ Hôsê: Thiên Chúa ngỏ lời với lòng nó trong cô tịch (Hs 2,14). Linh hồn có tuyệt đối an bình và thanh tịnh mới có thể lắng và nghe được những điều Thiên Chúa nói, vì Thiên Chúa nói sự bình an của Ngài trong cô tịch.
- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)


0 nhận xét:
Đăng nhận xét